Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Bài viết Trần Quang Hải

Trần Quang Hải : Đầu Năm Nói Chuyện Thú Vật Trong Âm Nhạc

 Ít người để ý đến chuyện nói về thú trong âm nhạc nói chung. Có thể có người biết chung chung về thú được dùng trong âm nhạc như da trống, hoặc hình dáng cây đàn theo một con thú nào đó. Nhân dịp Xuân về, để giúp các bạn thoải mái đôi phút, tôi xin mạn phép nói chuyện về chuyện thú vật trong âm nhạc thế giới.

Đầu Năm Nói  Chuyện  Thú Vật Trong  Âm Nhạc

Trần Quang Hải (Paris, Pháp) 




Thú vật đi đôi với nhạc khí

Theo một huyền thoại rất cổ xưa, có một vị Thần Pan có phân nửa trên là người và phân nửa dưới là thú, yêu một nàng tiên nữ, nhưng nàng tiên này lại không yêu trả lại và tìm cách biến thành cây sậy. Thần Pan thất vọng quá khi thấy người mình yêu trở thành sậy mới chặt sậy để làm thành cây sáo nhiều ống (tiếng Pháp là Flu^te de Pan hay Syrinx / tiếng Anh là Panpipe) để giải sầu.

Một nhạc khí cổ xưa khác bằng đất gọi là còi (tiếng Pháp là Sifflet hay Flu^te globulaire hay Ocarina / tiếng Anh là Whistle hay Globular Flute hay Ocarina) tìm thấy được ở các thiểu tộc ở Trung Mỹ (dân tộc Astèques ở Mexico) và ở Nam Mỹ (dân tộc Inca) phần nhiều đều được làm bằng hình thù thú vật như chim, thằn lằn, kỳ đà, gà. Có loại còi làm có đổ nước vào để bắt chước tiếng chim khi đi săn. Ơ ÛCăm Phu Chia và Thái Lan trong dàn nhạc triều đình có một cây đàn dây tên là Takhê (cá sấu). Tại Trung Quốc, Việt Nam và Đại Hàn trong dàn nhạc dùng để đàn ở văn miếu đức Khổng Tử có cây đàn gõ loại tự âm vang (idiophones) hình con cọp trên lưng có khứa để quẹt trên lằn khứa kêu nghe rẹt rẹt (Yu của Trung Quốc / Ngữ của Việt Nam)

Một huyền thoại đi liền với sự hình thành của một nhạc khí đàn dây nổi tiếng của vùng Trung Á (Central Asia - Asie Centrale) là cây đàn Mã đầu đề cầm của Mông Cổ. Ngày xưa có một hoàng tử ở thiên cung hay lén xuống trần gian dạo chơi. Tối nào hoàng tử cỡi ngựa ốm nhom nhưng đầy sinh lực để có thể phóng đi rất mau. Một hôm hoàng tử này gặp một cô gái rất đẹp chăn ngựa ở một vùng đấ t hẻo lánh của xứ Mông cổ. Ông hoàng trẻ này si tình cô gái chăn ngựa và cô này cũng yêu chàng hoàng tử không biết từ đâu tới. Mỗi tối thì thấy hoàng tử tới nơi trên lưng ngựa gầy. Ngủ với cô tới sáng sớm thì đi đâu mất. Cô tìm cách rượt theo con ngựa ốm yếu đó, nhưng con ngựa thần đi chạy nhanh hơn gió, không có ngựa nào ở thế gian có thể theo kịp. Một hôm cô giả vờ ngủ. Chờ khi chàng hoàng tử ngủ, cô liền bò ra ngoài, đi lại gần con ngựa gầy yếu này. Cô quan sát con ngựa, tự hỏi không biết con ngựa này có phép màu gì mà chạy mau dữ vậy. Sau khi khám xét con ngựa xong, cô thấy ở mỗi chân ngựa có một đôi cánh nhỏ. Cô ta liền cắt đôi cánh đi rồi trở vô ngủ lại, với hy vọng là ông hoàng tử này sẽ không còn chạy mất và sẽ sống với cô. Sáng sớm, như mọi khi, ông hoàng leo lên lưng ngựa phóng đi trước mặt trời lên. Con ngựa bị mất đôi cánh, chạy một chút thì bắt đầu thở hồng hộc. Chạy độ nửa đường lên trời thì ngựa kiệt sức, không thể chạy được nữa, rớt xuống đất chết giữa bãi đất hoang, xa nơi cô gái chăn ngựa. Ông hoàng tử ôm con ngựa khóc vì không thể nào trở về trời được nữa, mà cũng không biết cô gái chăn ngựa ở phương trời nào. Chàng hoàng tử thiếp đi. Sau khi tỉnh dậy, con ngựa biến thành một cây đàn hai dây có đầu con ngựa. Thân đàn có hai dây làm bằng đuôi ngựa, cái vĩ cũng làm bằng đuôi ngựa. Chàng hoàng tử mới cầm cây đàn kéo lên những giai điệu buồn và hát những ca khúc diễn tả nỗi lòng của mình trên con đường lưu đày nơi trần gian và không bao giờ tìm gặp lại cô gái chăn ngựa. Từ đó, cây đàn đầu ngựa trở thành cây đàn chánh của xứ Mông cổ mang tên là MORIN KHUUR. Nhiều xứ vùng Tây Bá Lợi Á cũng có loại đàn đầu ngựa ở các xứ Tây Tạng, Tu-va, Nepal.

Trong các loại đàn dây, hoặc thùng đàn làm mu con thú armadillo gọi là charango ở Bolivia, Peru, miền Nam Mỹ, hoặc mặt âm bảng làm bằng da thú (da trăn da rắn trên đàn tam Việt Nam còn được gọi là tam huyền cầm, san hsien Trung Quốc, sangen Nhật Bổn ; đàn nhị hay đàn cò Việt Nam, hu qin hay erl hu, nan hu Trung Quốc, hay bằng da chó da mèo trên mặt âm bảng của đàn shamisen của Nhật Bổn, hay da trừu trên mặt âm bảng đàn târ của Ba Tư, hay da thú khác như đàn kora của một số quốc gia Phi Châu, đàn Sarod của Ấn Độ. Mặt trống đều làm bằng da thú (bò, trừu, dê, trăn, cá sấu, vv "). Ngay trong các nhạc khí dùng để thổi như kèn túi (tiếng Pháp là cornemuse / tiếng Anh là bagpipe ) hầu hết các túi đều làm bằng da trừu. Phần trên chỗ lên dây đàn tỳ bà Việt Nam có khắc đầu con dơi. Chỗ dùng để treo móc trống đồng có hình con cóc.

Thú hay có tác dụng săn thú, đuổi thú trong loại nhạc khí gõ Việt Nam:

Đàn đá là một nhạc khí cổ xưa của Việt Nam. Bộ đàn đá đầu tiên được khám phá tại làng Ndut Lieng Krak năm 1949 do giáo sư Georges Condominas tìm ra. Bộ đàn này hiện được tàng trữ tại Musée de l'Homme, Paris, Pháp. Nhiều bộ đàn đá khác được khai quật tại Việt Nam sau đó như bộ đàn đá tìm thấy tại huyện Cam Ranh, tỉnh Phú Khánh ngày 28 tháng 2, 1979.

Bộ đàn đá mà người Mnong Gar gọi là goong lư, ngày thường được cất trong những sọt đan lớn. Vào dịp lễ lớn, đàn mới được mang ra và bày trước nơi thờ trong nhà. Sau đó người ta lấy máu trâu bôi vào những tấm đá đó và họ gọi là cho chúng "ăn trâu" (manger buffle / eat buffalo). Mỗi miếng đá nặng khoảng 7 tới 8 kí lô.

Một giả thuyết cho rằng mỗi thanh đàn đá được buộc vào dây, căng trên mặt suối. Một hòn đá được buộc cạnh đó, theo một cách kết cấu đặc biệt để khi nước suối chảy, hòn đá sẽ va đập vào các thanh đá, tạo nên âm thanh. Vị trí đặt đàn đá là những khu vực gần rẫy và gần suối. Điều đó đã thể hiện nhiệm vụ của nó : đuổi muông thú vào phá rẫy va giải trí cho những người làm rẫy, canh rẫy. Đócũng là nhiệm vụ của một số nhạc khí Tây Nguyên khác như Trưng gió, Trưng nước.

Khánh đá là một nhạc khí được cấu tạo bằng đá. Vừa là nhạc khí mà còn mang tính chất mỹ nghệ với yếu tố tạo hình để làm tăng vẻ đẹp. Không phải tự nhiên mà khánh đá mang hình con dơi. Giữa đá và dơi có liên hệ mật thiết như việc dơi sống trong hang đá. Có người cho rằng dơi là động vật tượng trưng cho sự bình an. Có thể vì vậy mà khánh đá mang hình con dơi với ngụ ý chúc tụng.

Khánh đá sử dụng thành đàn thường gặp trong những ngày Tết cổ truyền của người Việt với hình thức treo trên cây nêu. Chuẩn bị cho ngày Tết, người Việt thường chú ý chọn một cây tre đẹp và trên ngọn có độ cong hình trăng lưỡi liềm để treo vòng khánh đá. Cây nêu đó được quét vôi trắng, rồi quấn chéo những mảnh giấy màu làm tăng thêm vẻ đẹp.

Vòng khánh thường có 5 chiếc hoặc 4 chiếc treo trên một vòng tròn nhỏ. Trên vòng tròn, các khánh đá được đặt gần nhau để khi gió thổi, chúng có thể va đập vào nhau, tạo ra âm thanh. Năm chiếc khánh đá có độ dày mỏng khác nhau, do đó tạo ra âm thanh cùng phát ra một lúc, hay những âm thanh xen kẻ. Có thể ví 5 chiếc khánh đá như là dàn nhạc ngũ âm trên cây nêu, làdàn nhạc ngày đầu xuân, hay dàn nhạc Tết của mỗi gia đình Việt Nam.

Chiêng là một nhạc khí phổ thông khắp Đông Nam Á. Người ta tìm thấy sinh hoạt chiêng cồng tại nhiều nước như Mã Lai Á, Nam Dương, Phi Luật Tân, Miến Điện, Thái Lan, Căm Pu Chia, Việt Nam, Lào. Tại Việt Nam, chiêng có rất nhiều, phong phú, đa dạng được kieểm chứng qua nhiều sắc tộc : Mường, Hrê, Ê đê, Mnông, Gia Rai, Triêng, Xê Đăng, Bahnar, Chăm, Mạ, Stiêng, Kơ Ho.

Thông thường, chiêng là một nhạc khí dùng trong ghi lễ trọng thể. Chiêng còn có một giá trị của vật chất khá cao. Người Mường cho con gái chiêng làm của hồi môn có giá trị khi về nhà chồng. Có những bộ chiêng quý của người E Âđê được đồng bào trao đổi với nhau trị giá bằng một con voi hay hàng chục con trâu.

Người Gia Rai sử dụng các dàn chiêng khác nhau trong những trường hợp khác nhau. Dàn chiêng Trum dùng trong lễ đâm trâu. Dàn M'nhum dùng trong các lễ Tết vui, có uống rượu. Dàn A rap dùng trong lễ bỏ nhà mồ.

Thanh la là một nhạc khí bằng đồng rất được người Việt ưa thích và được nghe cùng với phường bát âm trong dịp rước Thành Hoàng làng, hội hè, đình đám. Thanh la cũng thường phối hợp với trống giữ nhịp cho múa như múa trống bồng, múa sư tử, múa lân.

Chuông cũng như trống đồng, gắn bó với người dân Việt. Chuông được cấu tạo bằng đồng. Những hình vẽ nổi trên các chuông lớn thường có hai con rồng chầu mặt trăng, mặt trời. Chuông lớn chủ yếu để dùng trong các chùa chiền, để thỉnh kinh hàng ngày và các dịp cúng lễ hàng năm. Có một số thiểu tộc ở Việt Nam, chuông còn được nghe trong lúc vui chơi nhảy múa, đi trẩy hội mùa xuân.

Ching Kial là loại nhạc khí làm bằng tre nứa phổ biến trong âm nhạc của người Bah nar, Xê Đăng, Gia Rai. Ching Kial tạo ra âm thanh nhờ gió thổi (Kial theo tiếng Bah Nar là "gió"). Nguồn gốc của Ching Kial là một công cụ để xua đuổi thú rừng, chim chóc vào phá rẫy, nên môi trường sử dụng chánh là những nơi thoáng gió, trên rẫy, trên ngọn cây nêu trong những ngày lễ hội.

là loại nhạc khí gõ xuất hiện lâu đời. Được làm bằng tre, cây. Mõ có nhiều loại. Mõ bằng tre, thường có hình cong theo hình dạ dày một con vật. Mõ bằng cây, hình tròn hoặc trái đào lòng khoét trống và có khe cho tiếng thoát ra. Loại này thường có đế, dùng trong chùa.

Có loại mõ được đẽo hình con cá, dài chừng 70 phân, bề ngang khoảng 18 tới 20 phân gọi là mõ cá. Mõ được khoét một khe dọc theo bụng cá phía trong khoét rỗng. Mõ cá được đặt trong các điểm canh treo theo chiều thẳng để khi đánh lên làm phương tiện thông tin, loan báo cho dân chúng biết khi có giặc, cháy nhà, lụt, trộm cướp, vv

Trống gắn bó với người Việt từ bao nhiêu đời. Nó hiện diện trong mọi hoàn cảnh chính trị, văn hóa, xã hội. Mỗi khi dân làng có chuyện gì cần thì trống thúc lên từng hồi. Khi giặc đến, thì trống ngũ liên, trống hội đê được đánh lên liên tục. Người xưa khi ra trận đánh giặc đều nghe theo nhịp trống (trống tiến, trống lui)

Mỗi khi mùa xuân đến trống lại rộn ràng vui đón xuân. Trống hội, trống rước thần hoàng làng, trống múa sư tử, trống vật, trống tang, trống tế.

Trống dân gian phong phú khi diễn tấu, đa dạng trong thể loại. Trống của mỗi dân tộc được làm theo từng kiểu, từng loại khác nhau. Tùy theo dân tộc, có trống cái, trống đế, trống bồng, trống cơm, trống khẩu, trống nhạc, trống Ba ra nưng , Gi năng (Chăm), trống Sài Dăm (Khơ Me). Mặt trống thường làm bằng da trâu hay da bò.

Tên bản nhạc có liên hệ tới thú vật

Trên thế giới, từ tân nhạc tới dân ca, nơi nào cũng có bài hát mang tên thú vật. Tôi không thể kể tất cả những bài hát của từng quốc gia có liên hệ tới thú vật vì không đủ chỗ trong phạm vi một bài báo. Tôi chỉ lựa mô.t vài thí dụ điển hình và trong lĩnh vực quen thuộc với độc giả người Việt.

Tân nhạc Mỹ thời 50-60 có một số bài bản mang tên thú vật trong tựa bài như " How Much Is That Doggy In The Window " (Patty Page hát), " The Mocking Bird Hill " (Patty Page), " Bird Dog " (The " verly Brothers), " Butterfly " (Tony Brent), " Hound Dog " (Elvis Presley), " When the Swallows Come Back to Capistrano " (Pat Boone), " What's New Pussy Cat ? " (Tom Jones). Dân ca Pháp cũng có một vài bài với tên thú vật như " Le Corbeau et le Renard " (Con Quạ Và con Chồn), " Alouette " (chim Alouette), " Trois Petits Canards " (Ba chú vịt con). Khoảng đầu thập niên 80 ở Pháp, có một loại nhảy đầm rất thịnh hành gọi là " danse du Canard " (Nhảy Vịt), một loại nhảy tân thời hai chân khép lại, hai cánh tay kẹp sát nách rồi tách rời ra nhiều lần theo nhịp nhạc, đầu thì lắc lư như bị mắc kinh phong. Loại nhảy này chỉ thịnh hành trong một mùa rồi chẳng ai múa nhảy gì nữa. Tân nhạc Việt Nam cũng có một số bản mang tên chim thú. Chẳng hạn như " Chim Chích chòe " (nhạc và lời : Đức Quỳnh). Tôi có sưu tầm bài " chim chích chòe " được thu vào dĩa 78 vòng vào đầu thập niên 50 và do quái kiệt Trần Văn Trạch hát theo điệu Swing rất là "giựt gân".

Sau 1975, tại Việt Nam cũng có một số bài mang tên chim như " Chim Chơ Rao " (1985), sáng tác của nhạc sĩ Đỗ Lộc cho độc tấu đàn Trưng cải tiến. Gần đây hơn tại Việt Nam có một vài bài hát khá nổi tiếng như " Tiếng Hát Chim Đa Đa 1 " và " Tiếng Hát Chim Đa Đa 2 " do ca sĩ Quang Linh hát, " Mùa Chim én bay " (Hoàng Hiệp), " Tùy Hứng Ngựa Ô " (Trần Tiến), " Tạm biệt chim én " (Trần Tiến), hay những bài ca thiếu nhi như " Chú Voi con ở bản Đôn " (Phạm Tuyên), " Cánh én tuổi thơ " (Phạm Tuyên ), " Tiếng ve gọi hè " (Trịnh Công Sơn), vv ... Ở hải ngoại, nhạc sĩ Phạm Duy có sáng tác tổ khúc "Bầy chim bỏ xứ"

Dân ca Việt Nam cũng có một số bài bản mang tên thú vật. Các bài Lý như Lý ngựa ô, Lý quạ Kêu, Lý con mèo, Lý con nhái, Lý con cua, Lý con sáo, Lý con quạ, Lý chim sắc, Lý con cá trê, Lý con thằn lằn, Lý gà mái tơ, Lý rồng nằm, Lý con lươn, Lý con trâu, Lý con nhạn, đến các điệu vè miền Nam như Vè con cua, Vè con trâu, Vè con cá, Vè các loài rắn, Vè thịt chó, vv

Trong âm nhạc Việt Nam nói riêng, chúng ta cũng khám phá một số bài bản có mang tên các con thú. Thời nhà Nguyễn (1802-1945), một số vũ điệu triều đình có tên là Mã Vũ, Tứ Linh Vũ (Long, Lân, Quy, Phụng), Phụng Vũ. Trong số 10 bài Ngự hay còn gọi là 10 bài Tàu thuộc bài bản của dàn Tiểu Nhạc Huế có bài Long Hổ, Tẩu Mã. Ở miền Nam, danh mục bài bản của Đàn Tài Tử cũng có một vài bản mang tên thú như Long Hổ Hội, Tẩu Mã (thoát thai từ các bài của dàn Tiểu Nhạc Huế). Trong cải lương miền Nam, ngoài hai bản Long Hổ Hội và Tẩu Mã từ Đàn Tài Tử ra, còn có thêm một số bài khác như trong loại dây Bắc có Lý Ngựa Ô Bắc (tiết tấu mau và nhịp một), trong loại dây Nam có Lý Ngựa Ô Nam (tiết tấ u chậm hơn và nhịp tư lơi), Lý Con Sáo (còn gọi là Lý Tam thất thường dùng trong cải lương) trong loại dây Oán (đặc biệt miền Nam, dùng dây hò Tư tục gọi là dây Chinh và dây Tố Lan) có Phụng Cầu Hoàng (là bản của Tư Mã Tương Như đàn để tỏ tình cùng nàng Trác Văn Quân), Phụng Hoàng (không bi đát bằng các bài oán khác như Văn Thiên Tường, Tứ Đại ), trong loại dây Nam do dây Bắc biến thể như Chuồn Chuồn (trươc dâ y Bắc sau đổi thành dây Nam, hát trước khi vô 6 câu Vọng cổ, dùng để tả cảnh gặp hoạn nạn).

Trong âm nhạc nói chung, chúng ta có thể tìm thấy những con thú được đềcập đến hoặc trong cốt chuyện như truyện Tây Du Ký của Trung quốc với Tề Thiên Đại Thánh, Trư Bát Giái đã được đưa vào Kinh Kịch (Opéra de Pékin). Năm 1979, một đoàn hát của Tàu đi sang Nhật Bổn lưu diễn và vở tuồng Sun Wu Kong (Tôn Ngộ Không) có 12 màn trích trong " Tây du Ký " với tựa tuồng là " The Monkey King Creates Havoc in Heaven " (Tề Thiên Đại Thánh đại náo thiên cung). Vở tuồng này cho thấy Tôn hành giả võ thuật siêu thần, múa cây thước tam bảng thần sầu quỷ khóc và mặt mũi được hóa trang tuyệt hảo. Ramayana được phổ biến Đông Nam Á có Hanuman là hầu nhân, một trong những nhân vật chánh. Ramayana là một thiên anh hùng sử của xứ Ấn độ có trước một thiên anh hùng sử khác là Mahabharata. Chuyện này tả việc hoàng tử Rama (hiện thân của thần Vishnu) bị oan khúc, phải bị đày vào trong rừng với vợ là Sita và người em làLaksamana. Sau đó vợ của Rama bị những người khổng lồ Raksasa bắt đi vànhờ hầu nhân Hanuman và đoàn binh khỉ cứu thoát. Trong một vài bản dịch có thêm đoạn hoàng tử Rama tái chiếm lại đất nước và công chúa Sita bị giết chết. Cốt chuyện chỉ có thế ma khắp các xứ Đông Nam Á từ Ấn độ

Các ca sĩ mang tên chim ở Việt Nam

Xứ Việt Nam có rất nhiều ca sĩ nổi tiếng mang tên chim. Trong thế giới tân nhạc Việt Nam có nhiều con chim được nhiều người biết tới như Bạch Yến, Hoàng Oanh, Họa Mi, Sơn Ca, ban hợp ca Ba Con Mèo. Sau 1975 ở Việt Nam có một vài ca sĩ cũng mang tên chim như Bảo Yến (có giọng hát trầm, chuyên hát các bài âm hưởng miền Trung, vợ của nhạc sĩ Quốc Dũng chuyên soạn hòa âm cho nhiều CD sản xuất ở Việt Nam), tam ca Ba con Mèo (khác với ban Ba Con Mèo trước 75). Về phía nhạc sĩ có mang tên thú vật có thể kể nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, Hùng Lân, Nhật Bằng, Lê Hoàng Long. Hai nữ nhạc sĩ đàn tranh là Nguyễn Thị Kim Oanh (ở tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ), và Phương Oanh (ở Pháp) với ban Phượng Ca. Về phía cổ nhạc, một số nghệ sĩ cũng có tên dính với thú vật như Thanh Nga, Minh Phụng, Hoàng Long, và sau 1975 có Kim Tử Long, Kim Tiểu Long, Phượng Hằng.

Đây chỉ là một bài sơ khảo về chuyện chim thú trong âm nhạc. Hy vọng sẽ mang lại cho các bạn một ít khám phá về một khía cạnh nhỏ trong lĩnh vực âm nhạc trong những ngày đầu Xuân.

Trần Quang Hải 


 

 

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 20272852