Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Du ký TQH

Tran Quang Hai : Dự hội nghị nhạc dân tộc ICTM tại Sheffield, Anh quốc, phần 2

Dự hội nghị nhạc dân tộc tại Sheffield, Anh quốc , 2-10 tháng 8, 2005 (tiếp)

Sheffield thứ bảy 6 tháng 8, 2005
Hình ảnh có thể coi ở đây : http://www.tranqhai.com/article.php?id_article=636 )

Sáng nay tôi thức sớm hơn mọi khi, lo chuẩn bị bài tham luận của tôi về nhạc di tản .
8giờ -9giờ ăn sang như mọi ngày không có gì thay đổi món ăn . Chỉ ăn sao cho no bụng thôi nhưng rất đầy đủ chất bổ .

Sau đó tôi phải đi lại phòng C là nơi tôi tham luận . Kiểm máy móc xong xuôi, tôi ngồi buổi hội thảo bắt đầu 10 phút sau đó .
9giờ 00-10 giờ30 hội thảo về “Refugees “ (Tỵ nạn) do GS Adelaide Reyes chủ tọa .

Bà Adelaide Reyes có quen tôi trước. Bà là người gốc xứ Philìppines, sang học bên Mỹ và sau đó định cư , dạy học bên Mỹ luôn . Bà có nghiên cứu về nhạc di tản Việt Nam , quen với nhạc sĩ Phạm Duy . Bà có tặng tôi một quyển sách Bà viết về nhạc di tản Việt Nam ở Mỹ cách đây vài năm .

Bài tham luận 1: “The Relationship between Movement , Image, and Space in Developmental Work with War affected Refugee Children Serbia 2001-2002” (Sự liên hệ giữa Động tác , hình ảnh và không gian trong công việc phát triển với trận giặc có ảnh hưởng tới những đứa trẻ tỵ nạn của xứ Serbia từ năm 2001 tới 2002) do Allison Jane Singer (Anh quốc) trình bày .

Một đề tài tế nhị đối với xứ Serbia và hậu quả chiến tranh đã làm thay đổi bộ mặt địa lý của xứ cựu Nam tư bị chia năm xẻ bảy .

Bài tham luận 2: “The Music of Vietnamese Refugees after 30 years 1975-2005” (Nhạc tỵ nạn Việt Nam sau 30 năm từ 1975 tới 2005) do Trần Quang Hải trình bày .

Vấn đề nhạc di tản Việt Nam đối với tôi không có gì khó khăn tra cứu hay nghiên cứu vì tôi đi liền với phong trào này từ lúc đầu cho tới ngày nay . Tôi chỉ đóng vai trò ghi lại những diễn tiến của nhạc Việt Nam ở hải ngoại sau 30 năm lìa xứ qua ba loại nhạc : nhạc cổ truyền, tân nhạc và nhạc đương đại viết theo kiểu nhạc cổ điển đương đại Tây phương . Cái nhìn của tôi là không phân tách , không phê bình (khen /chê) hay chỉ trích mà chỉ thống kê những giai đoạn của loại nhạc Việt Nam mà trong xứ không để ý tới mặc dù luồng nhạc này cũng phong phú và có những đặc điểm riêng của nó . Tôi có cho nghe một vài bài và sau đó trả lời những câu hỏi của cử tọa . Bài tham luận được tán thưởng nhiều .

Bài tham luận 3: “Dance Practices in the Sri Lankan London Tamil Community. Are they Markers for War Refugees to Sustain National , Cultural and Ethnic Identity ?” (Thực tập múa trong cộng đồng người nói tiếng Tamil của xứ Sri Lanka . Đó có phải là cách duy trì văn hóa và dân tộc tính ?) do Ann David (Anh quốc) phát biểu .

Qua bài tham luận, tôi nhận thấy những em bé sinh ra và lớn lên ở Anh quốc vẫn còn được cha mẹ khuyến khích tập luyện các điệu múa dân tộc để cố duy trì một phần nào văn hóa âm nhạc của họ trong một hoàn cảnh địa lý xa lạ . Ai đi xa đất nước cũng có ngày quay trở về nguồn cội . Sự kiện này cho thấy ở khắp các dân vì lý do này hay lý do khác phải đi mưu sinh lập nghiệp ở xứ người .

Sau phần nghỉ giải lao 30 phút để uống cà phê, “phái đoàn Việt Nam “ cùng đi tới phòng D để nghe đề tài về “Politics, Nationalism and Music in Viet Nam and Laos” (Chính trị, Quốc gia và Âm nhạc ở Việt Nam và Lào) do anh Tô Ngọc Thanh chủ tọa .

Bài tham luận 1 : “Singing for the Party, Singing for the King: War, Revolution and Lao Vocal Music” Hát cho Đảng, hát cho Vua : Chiến tranh, Cách mạng và nhạc lào) do Adam Chapman (Úc châu) thuyết minh .

Tôi có phát biểu về nhạc chính trị dung khèn và hát Lam . Tuy là loại hát đối cổ truyền , chỉ có nhạc là cổ truyền còn lời là những bài hát tuyên truyền cho một xu hướng chính trị . Điều này đã từng thấy ở Việt Nam, ở Trung quốc hay ở bất cứ quốc gia nào đang có chiến tranh . Ở miền Nam xứ Việt Nam đã có nhiều bài Vọng cổ với lời chú trọng về chiến tranh, chính trị, cách mạng để hun nóng chí khí người dân làm cách mạng trong thời điểm chiến tranh .

Bài tham luận thứ 2: “Cultural Nationalism and the Revival of Traditional Music in Viet Nam “ (Quốc gia văn hóa và sự hồi sinh nhạc truyền thống tại Việt Nam) do Barley Norton (Anh quốc) trình bày .

Barley Norton là một sinh viên người Anh đã từng sang Việt Nam nghiên cứu Hát Ca trù với gia đình ông Nguyễn Văn Mùi (đoàn Thái Hà) học đàn đáy khi anh làm luận án thạc sĩ . Sau đó anh chọn Chầu văn làm đề tài luận án tiến sĩ và đã bảo vệ thành công . Hiện giờ anh đi dạy ở một trường đại học tại Anh quốc . Vấn đề hồi sinh nhạc cổ truyền đặc biết là ca trù có nhiều vấn đề hơi phức tạp . Anh cho xem một đoạn phim về đàn đáy được biễu diễn với hơn 10 cây đàn đệm cho 20 cô hát ca trù . Đó cỏ phải là cải tiến hay phục sinh nhạc cổ truyền hay không ?

Ca trù đã được phục hồi vai trò của nó nhờ công sức của thân phụ tôi là GS Trần Văn Khê đã đưa tài liệu ca trù vào một cuộc thi của Unesco và bà Quách Thị Hồ đã chiếm một giải thưởng quốc tế . Nhờ đó mà bà được phong Nghệ sĩ nhân dân . Từ đó mới thấy có sự phục hồi loại nhạc này . Gia đình ông Nguyễn Văn Mùi cũng đóng góp rất nhiều cho sự phát triển ca trù . Từ anh Barley Norton (Anh quốc) tới cô Alienor Anisensel (Pháp) (cô này nghiên cứu ca trù và thành công xong luận án thạc sĩ của đại học Pháp vào năm 2004 mà tôi là người theo dõi luận án này), Ca trù được nhiều ngưòi trên thế giới ngưỡng mộ và khâm phục . Nhiều CD về Ca trù đã được sản xuất tại Pháp, Thụy Điển, Nhật, Hoa kỳ . Nhưng đó chỉ là một phần rất nhỏ trong việc hồi sinh . Việc làm chánh là làm sao tạo cho giới trẻ trong xứ tiếp tục học và bành trướng thêm nhiều hơn nữa .

Tôi có phát biểu nói về trường hợp nữ ca sĩ Hương Thanh hát dân ca với tiếng đàn guitar điện theo thể điệu Jazz của Nguyên Lê . Loại nhạc này không thể nói là canh tân dân nhạc mà chỉ là một hình thức ghép dân ca làm bối cảnh cho sự trang trí âm thanh Jazz . Có thể lạ tai đối với Tây Phương nhưng đối với người Việt thì không có gì là Việt Nam mà đôi khi còn chướng tai là đằng khác .

Tôi có chụp hình lưu niệm với Barley Norton và Adam Chapman trước khi đi ăn cơm trưa .
Hôm nay cơm trưa có cá hồi, nên dễ ăn hơn , chung với khoai tây . Tráng miệng thì có khóm tươi nên cũng vừa miệng .

Trước khi trở lại hợp, tôi đưa em Minh Châu về phòng của tôi để thực hiện cách trình bày bài tham luận của em theo diện Power Point trên máy vi tính . Với cách này , em Minh Châu có thể vừa đọc bài, vừa cho chiếu từng đoạn trên màn ảnh thì mọi người dễ theo dõi bài tham luận hơn .

Từ 14giờ30 tới 16giờ 30 hội thảo về “Multipart singing in the Balkans and in the Mediterranean” (Hát đa phần trong nhạc vùng Balkans và Địa Trung Hải) do Ardian Ahmedaja (Áo quốc) chủ tọa

Bài tham luận 1: “Investigation on Multipart singing in the Balkans and in the Mediterranean “ (Đầu tư trên loại hát đa phần trong nhạc vùng Balkan và Điạ Trung Hải) do Gerlinde Haid (Áo quốc) tham luận .

Bài tham luận 2: “ From One Isolated Instance to Another : some Clues for Understanding Multipart Singing in Mainland France” ( Từ một khoảnh đơn độc này tới đơn độc khác : một vài giải pháp để tìm hiểu hát đa phần ở xứ Pháp) do Jean Jacques Castéret (Pháp) thuyết minh

Bài tham luận 3 : “The Influence of Secondary Orality on Multipart Singing : Three cases from Sardinia and Corsica “ (Ảnh hưởng của truyền khẩu trên loại hát đa phần : ba trường hợp từ đảo Sardinia đến đảo Corse) do Ignazio Macchiarella (Ý) trình bày

Bài tham luận 4: “On Multipartite solo Singing in Albanian Traditional Music » (Về đa phần trong loại nhạc truyền thống xứ Albania)

Cả 4 đề tài này không thuộc lĩnh vực nghiên cứu của tôi . Dù tôi có ngồi nghe nhưng không cảm hứng mấy . Cái khó của những chuyến đi dự hội nghị là phải biết “cương / nhu” trong việc lựa chọn đề tài để nghe . Có khi vì vị tình bạn bè mà phải có mặt dù không “hấp dẫn” cho lắm . Tôi chỉ quan tâm tới bài tham luận của anh Ignazio Macchiarella , giáo sư dân tộc nhạc học ở đảo Sicilia (thuộc xứ Ý) . Anh nói về nhạc đa âm trong nhạc tôn giáo của hai đảo Sardinia và Corse . Đây là một loại nhạc đa âm dân gian giàu nhứt Âu châu và có cấu trúc nghiêm túc . Tôi đã có dịp tới đảo Sardinia hai lần vào năm 1997 và 1999 và có hát chung với những ca sĩ địa phương .

Tôi có phát biểu trong phần thảo luận cho biết là ở trong toán nghiên cứu mà tôi là thành viên có GS Bernard Lortat-Jacob chuyên nghiên cứu về khía cạnh đa âm trong nhạc đảo Sardinia và đảo Corse . Anh có làm một chương trình phân tách có thể tham khảo trên trang nhà http://www.ethnomus.org

Tới 16giờ 30 nghỉ xả hơi .

Từ 17 giờ tới 18giờ 30, hội thảo tại phòng A: “Popular Music and Globalization “ (Nhạc mới và tính toàn cầu) do GS Thomas Solomon (Na Uy) điều khiển

Tôi có quen với GS Thomas Solomon (người Mỹ) dạy học tại âm nhạc viện Grieg ở Bergen (Na Uy). Năm 2004 tôi tới trình diễn hai lần ở tỉnh Bergen và đều gặp anh Solomon . Anh này nghiên cứu nhạc sắc tộc Nam mỹ

Bài tham luận 1: “Hip Hop for Alla ? Islamic Themes in Turkish Rap in the Diaspora and in the Homeland” ( Nhạc Hip Hop cho Alla ? Chủ đề hồi giáo trong nhạc Rap Thổ nhĩ kỳ ở hải ngoại hay trong xứ) do GS Thomas Solomon trình bày .

Bài tham luận 2: “Seeking the Simurgh : Islam in Persian Australian Rap” (Hồi Giáo trong nhạc Rap Ba Tư Úc)

Bài tham luận 3: “Islamic Fundamentalism, Globalization and Music in Malaysia” (Nền tảng hồi giáo, Tính toàn cầu và nhạc ở Mã lai)

Tôi không có phát biểu mà chỉ ngồi nghe để tìm hiểu vì lý do gì nhạc Rap lại được dung để “tuyên truyền” đạo Hồi giáo .

Sau khi xong hội thảo, tôi về phòng tắm rửa , rồi cùng ăn mì gói với anh Thanh , hai em Toàn và Minh Châu .

19giờ45, anh Thanh mệt không có đi nghe nhạc kích động ở một club nhạc tên là Juju Club . Chúng tôi đi taxi với hai người bạn dự hội nghị . Tới Juju Club hãy còn sớm . Toàn , Minh Châu và tôi uống bia trong khi chờ đợi .

21giờ 30, phòng bắt đầu đông người . Không khí hộp đêm có vẻ nhộn nhịp . Dàn nhạc chơi nhạc xứ Congo (Phi châu) . Dân xứ này nói tiếng Pháp vì tôi tới hỏi họ . Những màn khiêu vũ luân chuyển theo nhịp trống kích động . Sau một giờ nhảy , tôi bị mời lên sân khấu cùng với một người phái nữ để cùng nhảy với các nhạc sĩ . Ai nấy hoan nghinh quá sức . Một buổi tối vui và tôi có chụp hình mọi người đang say sưa lắc lư theo âm nhạc . Toàn, Minh Châu cũng tham dự cuộc vui qua điệu nhảy .

23 giờ, ba chúng tôi rời club để lấy xe buýt về cư xá đại học .Tôi có ghé vào nơi bán bia ở cư xá , ngồi nghe một chút xíu về nhạc dân ca Anh quốc . Sau đó tôi về phòng , ngủ một giấc cho tới sang .

Sheffield, chủ nhật 7 tháng 8, 2005
Hình ảnh có thể coi ở đây : http://www.tranqhai.com/article.php?id_article=637

Hôm nay là ngày chủ nhật nên ăn sáng trễ hơn mọi khi . Thay vì 7giờ30 mà là 8giờ30 . Thức ăn cũng không có gì khác ngày trong tuần .

9giờ20 tất cả mọi người đi tham quan tề tựu tại bãi đậu xe buýt trước cửa ra vào của cư xá . Anh Thanh, Toàn, Minh Châu và tôi cùng đi chung chuyến xe số 3 là chuyến xe ít đi bộ nhứt và chỉ viếng có lâu đài Chatsworth thôi . Lâu đài Chatsworth của cặp vợ chồng bá tước (Duke and Duchess of Devonshire) vẫn còn ở . Một phần của lâu đài được mở cửa cho du khách tứ phương tới thăm viếng . Muốn biết thêm về lâu đài này , có thể vào thăm trang nhà với đầy đủ chi tiết : http://www.chatsworth.org

Gisa , cô nghiên cứu người Đức nói tiếng Việt thông thạo cùng đi chuyến này . Cô Gisa Jaenichen trước kia có nghiên cứu nhạc Việt . Cô đã viết luận án tiến sĩ về nhạc Việt Nam và sau này còn viết thêm một luận án để có chức giáo sư cũng về đề tài nhạc Việt . Ngoài ra cô có sống ở Việt Nam vài năm, nói tiếng Việt giỏi và đã giúp nhạc sĩ Kiều Tấn hoàn thành một qưyển sách về đàn ghi ta phím lõm tại Đức và đã hỗ trợ Kiều Tần thành hội viên của ICTM từ năm 1997 . Nhờ đó mà tôi gặp Kiều Tấn hai lần ở hội nghị ICTM tại Nitra (Slovakia 1997) và tại Hiroshima (Nhật 1999). Sau này Gisa đi sang Lào lo gầy dựng một trung tâm tàng trừ tài liệu thu thanh ở Vạn Tượng và có viết một quyển báo cáo thành quả việc làm này (dày trên 400 trang) mà tôi có mua được giữ làm tài liệu . Cô trở về Đức làm việc từ vài năm nay .

10giò 30 xe buýt tới tỉnh Eyam . Nơi đây có một viện bảo tàng nhỏ đư(ơc xây cất vào thế kỷ 17 , nhưng chúng tôi không được phép vào thăm . Xe ngừng cho mọi người đi tiểu trước khi đi tới lâu đài Chatsworth .

11giờ xe buýt chạy tới lâu đài . Tất cả mọi người trên xe buýt đều đi xuống và được đi thăm cho tới 16giờ 40 . Tôi cùng các bạn Việt Nam đi thăm các phòng ở trong lâu đài . Lâu đài này được xây cất vào năm 1550 và được mệnh danh lả “Palace of the Peak”, thu hút hang triệu du khách từ nhiều năm qua . Có phòng ăn rất đẹp (nơi đây nữ hoàng Victoria của thế kỷ 19 đã từng ăn lúc đúng tuổi trưởng thành) . Ngoài ra có phòng khách, phòng hòa nhạc, phòng ngủ . Tất cả đều được trang hoàng rất mỹ thuật .

Sau đó tôi cùng em Minh Châu đi dạo ngoài vưòn rộng mênh mông. Có rất nhiều nơi trồng bong hoa đủ loại. Có nước chảy như thác nhỏ. Có nơi được kết tụ những viên đá khổng lồ, có nơi làm thành loại “đường đi không lối ra”, có hồ cá nược rất nên thơ và nhiều chú vịt bơi thoải mái không sợ bị bắt làm gỏi vịt hay tiết canh .

Em Minh Châu được dịp tung tăng chạy nhảy, lăn trên cỏ như lúc còn thơ , làm cho tôi cũng nhớ lại lúc ấu thơ hay chạy , nhảy, nô đùa . Đó là kỷ niệm mà bây giờ tìm lại không thể có .

Tôi cùng Minh Châu đi gặp anh Thanh và Toàn để mua bánh mì thịt ăn trưa . Gisa từ đâu chạy tới nhập bọn ngồi trên cỏ gặm bánh mì , uống nước ngọt . Những người đi cùng chuyền xe cũng ngồi la liệt trên bãi cỏ ăn trưa dưới ánh nắng mặt trời .

Sau khi ăn xong, cùng nhau đi dạo công viên, rồi ngồi nghe một ban nhạc trình diễn loại nhạc nhẹ cho tới 16 giờ .

16giờ 30 đi ra khỏi lâu đài , kiếm cà rem sô cô la ăn cho đỡ khát .

16giờ40 lên xe buýt trở về cư xá
17giờ40 tới cư xá , mọi người về phòng rửa mặt rồi trở lại phòng ăn để dung cơm tối . Chúng tôi có món thịt heo ram với đậu , khoai tây tàn nhuyễn . Trái cây có dâu, kiwi, dưa gan , và bánh ngọt . Sau cùng là cà phê hay trà .

Tối nay có một chương trình dân nhạc Anh . Từ 19giờ30 tới 21giờ30 , tại phòng A, cô Pauline Cato đàn loại đàn túi Anh (Northumbrian pipe) suốt nửa chương trình với giải thích từng bài . Sau đó tới Martin Carthy đàn ghi ta và hát . Chương trình được cử tọa hoan nghinh vì được nghe dân nhạc xứ Anh .

21giờ 50, tôi về phòng . Toàn đi theo và nhờ tôi làm dùng Power point cho bài tham luận

23giờ xong việc, Toàn ra về , tôi cũng mệt nên đi ngủ liền .

Sheffield thứ hai 8 tháng 8, 2005

Hình ảnh có thể coi ở đây : http://www.tranqhai.com/article.php?id_article=643

Mỗi sáng đều ăn giống nhau nên không có gì thay đổi . Chỉ còn vài ngày nữa là chấm dứt hội nghị . Thởi giờ trôi qua quá mau .

Tôi đưa Minh Châu đi nghe hội thảo ở phòng C với đề tài “Music in Religious Ritual Practices “ (Nhạc trong thực tập tôn giáo) do GS Marianne Brocker (Đức) chủ tọa .

Bài tham luận 1 : “A Musical Study of the Fang Cheng Ritual in Chinese Buddhism” (Nghiên cứu âm nhạc của lễ Fang Cheng trong Phật Giáo Trung quốc) do Chan Wai Yin (Hong Kong) trình bày .

Bài tham luận 2: “ Indigenous Zulu Music and Identity in South African Catholic Worship . A study of Brother Clement Sithol’s composition” (nhạc sắc tộc Zulu và dân tộc tính trong nhạc nhà thờ công giáo Nam phi) do Astrid Treffry-Goatley (Nam Phi) thuyết minh .
Tôi có phát biểu về hai nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học kỳ cựu là David Rycroft và Dave Dargie . Ông David Rycroft đã từ trần còn ông Dave Dargie thì sắp về hưu . Ngoài ra Dave Dargie đã có công khám phá ra kỹ thuật hát đồng song thanh ở Nam Phi .

Bài tham luận 3: “Paraliturgical Music in Malta: An Ethnomusicological Perspective” ( Nhạc tôn giáo ở xứ Malta: một viễn ảnh dân tộc nhạc học) do Giovanna Iacovazzi trình bày .

Đảo Malta rất nhỏ ở vùng Địa Trung Hải, chịu ảnh hưởng Thỗ nhĩ kỳ và Hy Lạp cho nên tôn giáo gồm có hồi giáo và thiên chúa Ki-tô .Tôi không có nghiên cứu về Âu châu nên không mấy quan tâm đến .

Sau khi nghỉ giải lao 30 phút , chúng tôi đi tới phòng E hội thảo về “Theoretical Reflections” (Suy nghĩ về lý thuyết ) do Rembrandt Wolpert chủ tọa

Bài tham luận 1: “Reflections on Presenting from the Global Migration of Culture in a New Age of Empire” (Suy nghĩ về sự di chuyển văn hóa toàn cầu trong thời đại mới của vương quốc) do Tom Van Buren (Mỹ) trình bày

Bài tham luận 2: “The Sonic Structure of Tom Yaya Kange: An Example of Ku Waru Sung Poetry from Papua New Guinea” (Cấu trúc âm thanh của Tom Yaya Kange : Một thí dụ của ngâm thơ Ku Waru của đảo Papu tân Ghị-ni) do Don Niles thuyết minh .

Tôi đến nghe Don Niles vi` la` bạn thân chứ đề tài hoàn toàn o ngoài sự hiểu biết của tôi . Sau bài tham luận này , tôi cùng Minh Châu đi sang phòng A để nghe cô bạn người Nhật Konishi Junko nói về “A Consideration of the Origins and Diffusions of the Micronesian Marching Dance based on Historical Documents and Oral Traditions Pohnpei Island and Mwoakilloa Atoll” (Sự thẩm xét nguồn gốc và phát huy điệu múa vùng Micronêsiên dựa trên tài liệu lịch sử and truyền khẩu của đảo Pohnpei va Mwoakilloa Atoll) .

Lại thêm một đề tài ngoài vòng nghiên cứu của tôi . Vì tình bạn tôi phải đến nghe chứ không thể thảo luận gì hết .

Sau đó là tới giờ ăn trưa . Hôm nay có món thịt bò , khoai tây chiên, cà tô mát, rau xà lách trộn với khoai tây luộc và giá (không biết gọi là món gì ? đặt đại tên là “rau xà bầng” . Tráng miệng có nho, khóm, uống cà phê .

Từ 14 giờ tới 14giờ30, tôi giúp Toàn chuyển bài tham luận theo cách Power point trên máy vi tính .

Từ 14giờ30 tới 16giờ 30 chúng tôi dự hội thảo ở phòng A về đề tài : “A Political War on Culture ? The Cultural Revolution . Its Impacts on Musics in China” (Chiến tranh chính trị đối với văn hóa ? Cách mạng văn hóa . Ảnh hưởng trên âm nhạc tại Trung quốc), do Tsai Tsan Huang (Đài Loan) làm chủ tọa .

Đề tài này khá thú vị . Lần đầu được mang ra thảo luận . Cách mạng văn hóa Trung quốc dưới thời Mao Trạch Đông vào thập niên 60 đã gây thiệt hại nặng nề đối với âm nhạc. Nhạc Khổng Tử, nhạc cổ truyền bị cấm, hát tuồng kinh kịch bị cấm, vv…. Cảc nhạc sĩ phải đi cải tạo, và nhiều sách vở về nhạc bị đốt đi . Chỉ có loại nhạc kịch cách mạng được bà Giang Thanh hô hào khích lệ mang ballet và dàn nhạc pha trộn nhạc khí cổ với tân theo phong cách Tây phương làm đảo lộn giá trị âm nhạc ở Trung quốc .

Bái tham luận 1: “The Social, Political and Musical Significance of Revotuionary Beijing Opera” (Ý nghĩa xã hội, chính trị và âm nhạc của loại kinh kịch cách mạng Bắc kinh ) do Lam Chin Wah (Trung Quốc) trình bày .

Bài tham luận 2: “Forcing Revolution : The Chinese Zither Reform Committee and Its Impact on Chinese Musical Instrument” (Cách mạng cưỡng bách: hội đống canh tân đàn tranh Trung quốc và ảnh hưởng trên nhạc cụ Trung quốc ) do Tsai Tsan Huang (Đài Loan) thuyết trình .

Bài tham luận 3: “Black Humour : Chinese National Musicology duing the Cultural Revolution” (Hài hước đen: âm nhạc học quốc gia Trung quốc trong giai đoạn cách mạng văn hóa) do Xiao Mei (Trung quốc) trình bày .

Bài tham luận 4 : “ The Music of the Tujia Autonomous County of Chagyang during the Period of Cultural Revolution” (Nhạc của vùng tự trị Tujia trong thời điểm cách mạng văn hóa) do Xiao Ming (Trung quốc) trình bày .

Bài tham luận 5: “ A comparison of Liling’s Musical Theory Before and After the Cultural Revolution” (Đối chiếu Lý thuyết âm nhac củ Liling trước và sau cách mạng văn hóa) do Pan Mulan (Trung quốc) thuyết minh

Cả 5 bài tham luận xoay quanh đề tài cách mạng văn hóa ở Trung quốc đưa ra những hậu quả không hay đẹp đối với âm nhạc sau 40 năm qua . Giới lãnh đạo mà đi sai đường lôi kéo cả một nền văn hóa đi xuống dốc một cách nguy hại . May thay là chỉ kéo dài có một khoảng thời gian ngắn thôi , chưa kịp tiêu diệt những gì có thể gìn giữ . Ngày hôm nay những nhà nghiên cứu âm nhạc ở Trung quốc dám chỉ trích , phê bình và nhìn nhận những sai lầm .

16giờ30 -17 giờ nghỉ giải lao .

17giờ - 18giờ 30 Chúng tôi đi dự hội thảo ở phòng A về đề tài : “Applied Ethnomusicology and Studies on Music and Minorities : The Convergence of Theory and Practice” (Dân tộc nhạc học áp dụng và nghiên cứu nhạc thiểu số : Sự giao lưu giữa Lý thuyết và thực tập) do Ursula Hemetek (Áo quốc chủ tọa .

Chúng tôi chỉ ngồi nghe một lát rồi không thấy thú vị cho lắm với đề tài này , nên chúng tôi 4 người cùng về phòng tôi để tổng dượt hai bài tham luận của Toàn và Minh Châu để chuẩn bị ngày hôm sau hai em sẽ tham luận . Có anh Tô Ngọc Thanh tham dự và góp ý để cho bài được hoàn chỉnh hơn .

Sau đó mọi người xúm nhau đi ăn mì gói cho buổi cơm chiều . Mì gói hiệu “Hảo Hảo” và “Đệ Nhất mì gia” là hai loại mì ăn loại có phẩm chất cao được anh Thanh, Toàn và em Minh Châu mang theo sang Anh quốc để tôi có dịp thưởng thức mì ăn liền của Việt Nam .

Tối nay, có một chương trình chiếu phim từ 20giờ 30 tới 23giờ . Hai cuốn phim về “Karum Nupu : Basket of Songs” (về đời sống âm nhạc của thổ dân đảo Vanuatu) do Raymond Amman (Vanuatu) thực hiện. Phim dài 35 phút cho thấy một phương pháp bảo lưu truyền thống nhạc dân tộc .

Phim thứ nhì của Liu Hsin Cheng (Đài Loan) “Sounds of Love and Sorrow” (Âm thanh của Tình yêu và Buồn phiền). Phim dài 86 phút trình bày các làm sáo thổi mũi, sáo đôi, sáo đơn của vài sắc tộc Đài loan .

23giờ -24giờ 15, Anh Thanh và tôi cùng nhau hàn huyên , tâm sự về hiện tại và tương lai của việc nghiên cứu nhạc ở Việt Nam . Hai anh em tâm đắc bên cạnh ly rượu Cognac và lạc rang hún liều .

Sheffield thứ ba 9 tháng 8, 2005

Hình ảnh có thể coi ở đây : http://www.tranqhai.com/article.php?id_article=644

Hôm nay là ngày quan trọng của hai em Toàn và Minh Châu .Sau khi ăn điểm tâm mau lẹ , chúng tôi đi tới phòng C để kiểm lại máy rọi và máy vi tính cùng CD và VCD chiếu hình trước khi khai mạc hội thảo ;
Tôi là người chủ tọa buổi hội thảo về “ Issues on Vietnamese Music” (Thành quả nghiên cứu nhạc Việt) .

9giờ- 10giờ bắt đầu hội thảo

Bải tham luận 1 : “Mã River Art and Restoration to Come back to Life” (Hò Sông Mã và hiện sinh” do Nguyễn Thị Minh Châu thuyết minh .

Em Minh Châu trong chiếc áo dài xinh xắn, đã đọc chậm rãi bài tham luận với sự phụ giúp của hệ thống Power Poìnt dễ theo dõi từng đoạn của bài tham luận . Những hình ảnh của phim cho thấy cách hò sông Mã ra sao lủc rời bến, trong khi chèo trên sông Mà với những điệu hò khác nhau và lúc cập bến . Minh Châu phân tách những âm giai ngũ cung trong loại hò song Mã và cho biết những bài viết , sách nghiên cưú cũng như CD, VCD về Hò Sông Mã đã được một số nghiên cứu viên của Viện Âm nhạc với mục đích làm sống lại loại hò sông Mã đã không còn thông dụng từ 50 năm nay .
Một số câu hỏi được đặt ra và được em Minh Châu trả lời thông suốt .

Bài tham luận 2: “The Folkd Performing Arts of Trò Thiếp and Múa Đèn in Thanh Hóa province” (Nghệ thuật diễn Trò Thiếp và Múa Đèn ở tỉnh Thanh Hóa” do Lê Văn Toàn trình bày .

Toàn trình bày rõ ràng với minh họa bằng những hình ảnh video Trò Thiếp, Múa đèn và đối chiếu với các điệu múa cung đình . Hai bài tham luận được thành công . Sau đó một số bạn đồng nghiệp Đại hàn và Nhật lên khen và chụp hình kỷ niệm .

10giờ30 – 11 giờ : nghỉ giải lao . Chúng tôi mừng với nhau qua ly cà phê . Sự đóng góp của Việt Nam tại hội nghị ICTM với 4 anh em chúng tôi đã gây một tiếng vang tốt . Nhiều người đã tỏ lòng ưu ái và đầy thiện cảm khi gặp chúng tôi chào hỏi than mật . Hy vọng là mỗi kỳ hội nghị ICTM trong tuơng lai đều có người đại diện cho xứ Việt Nam để công bố những thành quả nghiên cứu qua nhiều khía cạnh nghiên cứu tại Việt Nam .

11 giờ - 12giờ 30, chúng tôi dự hội thảo “Romani Music.What is it ? How do we approach it ? What can we say about it ?” (Nhạc du mục Lỗ Ma Ní là gì ?, Làm sao có thể đến gần ? Và biết gì về loại nhạc đó ?) do Speranta Radulescu (Rumani) chủ tọa .

Đây là một bàn tròn đông người tham luận nhất . Tất cả có 9 người thuộc nhiều quốc gia Âu châu : Filippo Bonini Baraldi (Ý), Christiane Fennerz Jubasz (Áo quốc), Ursula Hemetek (Áo), Zuzana Jurkova (Tiệp), Katalin Kovalcsik (Hungari), Svanibor Pettan (Slovenia), Iren Kerterz Wilkinson (Anh quốc) và Victor Stoichita (Pháp) .

Speranta Radulescu, người xứ Rumani, quen tôi từ năm 1987 khi có hội nghị âu châu được tổ chức tại Paris . Lúc đó bà này mới chập chững bưóc vào nghề nghiên cứu . Bây giờ bà trở thành Giáo sư nổi tiếng ở Bucarest , thủ đô của xứ Rumani . Filippo Bonini Baraldi (Ý ) và Victor Stoichita (Pháp) là hai sinh viên thi tiến sĩ ở Paris , thường gặp tôi ở nơi tôi làm việc . Bà Ursula Hemetek (Áo) đã quen tôi qua nhiều lần hội nghị ICTM . Svanibor Pettan (Slovenia) là người chịu trách nhiệm chương trình hội nghị ICTM lần này và cũng đã quen tôi từ mấy năm qua tại Brazil và Trung quốc .Anh cũng là tân ủy viên của hội đồng thường trực của ICTM được bầu kỳ này . Đề tài về nhạc du mục được bàn cãi với nhiều thí dụ bằng hình ảnh và thí dụ âm thanh .


12giờ 30 -14giờ nghỉ ăn trưa. Hôm nay ăn thịt trừu, khoai tây luôc, khóm , bánh ngọt sô cô la .Cà phê hay sô cô la nóng .

14giờ 30 – 16giờ 30 hội thảo tại phòng B với đề tài : “Conflict Resolution “ (Sự đụng chạm / Giải pháp) do Raymond Amman (Vanuatu ) chủ tọa .
Bài tham luận 1: “Tamenha Ibuga . Music and Dance of the Basoga : Is it Entertainment or Conflict Resolution ?” (Nhạc và Múa của Basoga . Có phải là giải trí hay sự va chạm truyền thống ?) do James Isabirye (Uganda)

Bài tham luận đưa ra vấn đề nhạc và múa đưa lên sân khấu làm thay đổi vai trò của nhạc cổ truyền . Vấn đề đã có xảy ra thường xuyên tại Việt Nam với những vũ điệu dân tộc cải biên và các bài dân ca biến đổi để phù hợp với trình diễn sân khấu .

Sau bài tham luận này , chúng tôi đi sang phòng A để nghe đề tài “Discourses of Revival” (Nói chuyện về phục hưng) do Stephen Wild (Úc châu) chủ tọa .

Bài tham luận 2: “Revitalizing the Bourrée in Auvergne” (Làm sống lại điệu múa Bourrée ở vùng Auvergne – Pháp) do Joelle Vellet (Pháp) trình bày .

Bài tham luận 3: “ Documentation for Revival or Revival for Documentation ? Issues Regarding the Preservation of the Traditional Musical Heritage of Vraja, Northern India “ (Tài liệu về phục hưng hay phục hưng qua tài liệu? Một vài giải đáp đối với sự duy trì gia tài nhạc truyền thống tại Vraja, Ấn độ miền Bắc) do Saurabh Goswami (Ấn) và Selina Thielemann (Ấn) đảm nhận .

Bài tham luận 4: “Women Musicians and the Folk Music of the Australian Frontier “ (Nữ nhạc sĩ và dân nhạc biên giới Úc) do Jennifer Gall (Úc) trình bày .

Vấn đề phục hồi nhạc dân tộc rất được nhiều xứ quan tâm đến . Nhưng phục hồi bằng cách nào ? Và làm sao để bảo vệ vốn cổ mà không bị “lai căng” . Tôi mong rằng những người lãnh đạo về âm nhạc dân gian ở Việt Nam sẽ ý thức được vấn đề này và đừng để cho nhạc dân tộc Việt rơi vào cảnh nhạc “ngoại lai “ như đã thường thấy tại nhiều quốc gia khác .Phục hưng không có nghĩa là “Âu hóa” “vọng ngoại” mà là nâng trình độ nhạc dân tộc lên cao , khuyến khích đám hậu sinh tiếp nối truyền thống theo phong cách cổ truyền và tạo điều kiện cho người chơi nhạc cổ truyền hay hát nhạc cổ truyền có phương tiện phát huy qua nhiều buổi trình diễn khắp nơi và đưa nhạc cổ vào chương trình giáo dục âm nhạc .

16giờ - 17 giờ : nghỉ giải lao . Cứ mỗi 90 phút thảo luận là có 30 phút nghỉ xả hơi để cho đầu óc ít bị căng thẳng và để cho mọi người có thể gặp nhau tiếp tục thảo luận xung quanh tách cà phê .

17giờ - 18giò30 một cuộc hội thảo quan trọng tại phòng A với đề tài thu hút nhiều người “UNESCO Intangible Cultural Heritage and the ICTM” do Wim Van Zanten (Hà Lan) tân phó chủ tịch ICTM, và Rieks Smeets (Hà Lan) đại diện cho UNESCO

Từ vài năm nay, UNESCO có ra một “giải thưởng” tặng “huy hiệu” “Gia tài văn hóa phi vật thể” cho những truyền thống nhạc đang bị suy sụp và được chấn hưng , trong đó nhạc cung đình Huế được chọn vào năm 2003 .

Trong cuộc bàn cãi hôm nay, UNESCO có ý định là năm 2005 sẽ là năm cuối cùng của việc lựa chọn này . Và sau đó sẽ không còn tiếp tục nữa . Có thể chỉ ban một chứng chỉ thay thế cho huy hiệu “Gia tài văn hóa phi vật thể “ . Ông Wim Van Zanten là người đại diện cho ICTM để liên lạc với UNESCO và theo dõi vấn đề này trong tương lai .

18giờ 30 – 20 giờ , buổi cơm chiều cuối cùng với mì ăn liền được 4 anh em chúng tôi thưởng thức vì ngày hôm sau là ngày chót của đại hội .
21giờ - 22giờ 30 có một buổi chiếu phim tại phòng C . Tôi giới thiệu tài liệu DVD “Le chant diphonique “ về hát đồng song thanh được thực hiện ở đảo La Réunion vào năm 2004 do tôi là đồng tác giả với anh Luc Souvet sau 4 năm thu thập tài liệu và một năm quay phim và ráp phim . Cuốn phim dài 27 phút nói về kỹ thuật hát đồng song thanh và sự áp dụng vào chương trình dạy nhạc trình độ trung học dành cho trẻ em từ 13 tới 17 tuổi . Nhóm Huun Huur Tu nổi tiếng về loại hát này của xứ Tuva đã cộng tác với tôi trong phần dẫn chứng các thể loại hát đồng song thanh . Tài liệu không có tính cách nghiên cứu mà chú trọng nhiều về sư phạm âm nhạc . Sau phần chiếu phim , tôi biểu diễn cách hát trực tiếp và chỉ dạy cho mọi ngườ có thể hát trong một vài phút . Kết quả là những người được tôi mời lên “minh họa “đều thành công hát ra bồi âm làm cho cử tọa vỗ tay hoan nghinh .

Sau phần trình bày cuốn phim của tôi là tới phiên Elizabeth Markham (Tân Tây lan/ Mỹ) giới thiệu cuốn phim dài 52 phút “On the Road to Tang Through Cambridge with Dr. Laurence Picken” (Trên con đường tới nhà Đường Trung quốc qua Cambridge, thành phố Anh quốc với TS Laurence Picken) .

Cuốn phim này cho thấy TS Laurence Picken, một nhà dân tộc nhạc nổi tiếng cúa Anh quốc đã dày công nghiên cứu nhạc nhà Đường và tìm cách ghi lại thành bài bản để cho một số ca sĩ và nhạc sĩ Tây phương thử đàn lại nhạc thời nhà Đường . Không biết có phải đúng là nhạc thời đó như vậy hay không vì không có bằng chứng cụ thể . Nhưng đây là một thí dụ nêu ra một đuờng lối nghiên cứu qua sách vở.

Sau đó chúng tôi đi uống bia đen Guinness ở quán bar của cư xá , gặp vài bạn đồng nghiệp như GS Tim Rice (Mỹ, dạy ở UCLA , đại học Los Angeles, California, Mỹ), chụp hình kỷ niệm .

Khoảng một giờ sau , chúng tôi trở về phòng lo thu xếp hành lý để ngày mai lên đường sau khi họp xong buổi sáng .

Sheffield thứ tư 10 tháng 8, 2005

Hình ảnh có thể coi ở đây : http://www.tranqhai.com/article.php?id_article=645

Sáng nay tôi thức dậy , coi lại hành lý và khiêng va-li để vào phòng dành cho hành lý và phải trả phòng , trả chìa khóa .

9giờ chúng tôi đi nghe đề tài về nhạc xứ Khakassia (Trung Á) về cây đàn tranh và hát giọng hầu (gần giống hát đồng song thanh của Tuva)

Tôi có phát biểu ý kiến là giọng hầu cúa xứ Khakassia không giống giọng hầu (Khoomei) của Tuva và Mông Cổ .

Từ 9giờ 30 tới 10giờ 30 chúng tôi nghe bài tham luận của hai người Đài Loan về nhạc dân gian và sự áp dụng nhạc và múa cổ truyền vào sáng tác đương đại .

Sau phần giải lao, mọi người trở lại hội trường để dự lễ bế mạc hội nghị . Nhiều người phát biểu cám ơn ban tổ chức đã hoàn tất hội nghị với một chương trình hội thảo phong phú, và những tiết mục giải trí như nhạc buổi tối và du ngoạn .Tất cả mọi người hẹn gặp nhau tại thủ đô Vienna (xứ Áo) từ 3 tới 11 tháng 7, 2007 cho kỳ hội nghị ICTM lần thứ 39 .

12giờ -13giờ 30 ăn trưa với món thịt trừu , khoai tây , trái cây cam, bưởi, táo tây, cà phê .
Mọi người ôm nhau chia tay , hẹn gặp lại trong tương lai .
Bốn anh em chúng tôi gọi taxi đi ra nhà ga . Cô Razia (xứ Uzbekistan) xin đi ké chung với chúng tôi ra nhà ga .
Anh Tô Ngọc Thanh đi hướng Manchester . Toàn , Minh Châu và tôi đi về Luân Đôn để ngủ một đêm tại Luân Đôn .

17giờ 50 xe lửa từ Sheffield tới nhà ga Saint Pancras . Lấy xe điện ngầm đi tới trạm Notting Gate nhưng không phải là trạm gần khách sạn tôi mướn . Sau cùng tôi gọi taxi và đưa chúng tôi tới khách sạn TRIA ở Saint Stephan’s Garden số nhà 37 . Tôi trả tiền taxi là 6 bảng .

Khách sạn sạch sẽ giá không đắc , chỉ có 75 bảng Anh cho ba người . Như vậy là rẻ đối với đời sống ở Luân Đôn . Phòng ở lầu nhì , số phòng là 203 .

19 giờ Bích Trà , một nữ nhạc sĩ dương cầm Việt Nam đã từng đi học nhạc ở nhạc viện Chaikovsky tại Moscova (Nga) 10 năm và sống tại Luân Đôn 7 năm nay và theo học nhạc tại Royal Academy of Music (âm nhạc viện) . Cháu Bích Trà từng đi trình diễn piano tại Anh, Đức và Việt Nam . Hiện đang chuẩn bị làm một CD về tiếng đàn piano của cháu .
Em Minh Châu có quen với Bich Trà từ lâu và có hẹn với cháu để đưa chúng tôi đi tham quan “London by night “ trước khi trở về Việt Nam.

Bích Trà đưa chúng tôi tới tiệm “Four Seasons” ăn món vịt quay đặc biệt nổi tiếng là ngon nhất Luân Đôn . Quả đúng như vậy . Ăn xong , cháu Bích Trà dành trả tiền , đãi chúng tôi làm chúng tôi áy náy vì cháu là hàng con cháu mà đãi chú cô thì theo phong tục Việt Nam không đúng phép . Nhưng cháu nhứt quyết thì chúng tôi đành chịu .

Sau đó Bích Trà đưa chúng tôi tới Westminster Abbey là Quốc hội của xứ Anh, viếng chiếc cầu treo, đi dọc theo bờ song Thames, xem London Eye (là một chiếc cầu vong cao vút ngồi trên đó cả giờ thì mới xong một vòng để có thể thấy toàn thành phố Luân Đôn).

22giờ30 chúng tôi từ giã cháu Bích Trà để trở về khách sạn vì sáng hôm sau Toàn phải ra phi trường Heathrow lấy máy bay trở về Hà nội . Tôi và em Minh Châu còn ở Luân Đôn suốt cả ngày hôm sau thì mới lấy xe lửa tốc hành để đi Paris (Pháp) . Minh Châu viếng Paris ba ngày để biết nơi tôi làm việc, phỏng vấn tôi về việc làm tại Musée de l’Homme, chụp một số hình nhạc cụ còn lại trong văn phòng làm việc và đi thăm viếng những danh lam thắng cảnh của thủ đô Paris trước khi trở về Việt Nam vào ngày 14 tháng 8 .

Chuyến đi dự hội nghị ICTM lần này đã để lại trong lòng tôi nhiều kỷ niệm khó quên và tôi chỉ hy vọng rằng tôi còn có dịp gặp nhiều nhà nghiên cứu trẻ của Việt Nam trong những kỳ hội nghị ICTM tới để cùng trao đổi và dìu dắt các em trên con đường phổ biến nhạc Việt ớ các hội nghị quốc tế .

Trần Quang Hải (cuối hè 2005)

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 19980738