Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Nghiên cứu gia VN

Bùi Trọng Hiền : Trả lời báo Tuổi Trẻ

Thời gian qua, lễ Tịch điền và lễ hội Lảnh Giang- Hà Nam đã tạo nên làn sóng sôi nổi trái chiều trên báo giới về quan điểm phục dựng di sản văn hóa nói chung, lễ hội dân gian nói riêng. Trong đó, có những người bộc lộ quan điểm khá chân thành xong cũng có kẻ mượn gió bẻ măng, tát nước theo mưa. Xin trình bày quan điểm của tôi qua cuộc trả lời phỏng vấn dưới đây.

Lễ Tịch điền



1.Với tư cách là một nhà nghiên cứu di sản trẻ, anh nhìn nhận như thế nào về cách bảo tồn di sản của chúng ta thời gian qua (vật thể và phi vật thể)?

Thời gian khoảng hơn 10 năm qua, có thể nói sự nhìn nhận của xã hội đối với các giá trị văn hóa dân tộc đã có những bước chuyển biến cơ bản. Sự trân trọng di sản của cha ông là điều dễ nhận thấy. Đây đó, phong trào phục dựng, bảo tồn các di sản ngày càng trở nên phổ biến hơn. Đó là điều đáng mừng so với cả quá trình dài “phát triển, hiện đại hóa” kiểu “loại bỏ, làm mới” văn hóa dân tộc ở nửa cuối thế kỷ XX. Với sức mạnh của các phương tiện truyền thông hiện nay, có thể nói sự quảng bá, tuyên truyền cho văn hóa cổ truyền dân tộc đã có những lợi thế rất lớn. Sự chia sẻ thông tin luôn có điều kiện để trở thành những đề tài nóng hổi. Di sản giờ đây không còn là “của riêng” khu biệt mang tính vùng miền. Đó là một khuôn diện mới đáng mừng trên con đường phục hưng các giá trị văn hóa dân tộc tự ngàn xưa. Tuy nhiên, sau cả một thời gian dài bị quên lãng, giờ đây khi phục hưng, sự biến thái, xô lệch, thậm chí méo mó của di sản là điều không thể tránh khỏi. Hiện đã có một số di sản văn hóa của Việt Nam được UNESCO phong tặng danh hiệu. Nhưng như thế không có nghĩa chúng ta được phép thỏa mãn, bởi danh hiệu cuối cùng vẫn chỉ là danh hiệu mà thôi! Di sản đó có tồn tại đúng nghĩa hay không? Hệ giá trị độc đáo của di sản có được bảo lưu nguyên vẹn hay không..? Sự thực là vẫn còn có quá nhiều việc phải làm. Có những di sản, mọi người nhìn bề ngoài tưởng chừng như ổn định, đã bảo tồn xong nhưng trên thực tế thì không phải như vậy. Bằng chứng là tiếng chuông báo động cảnh tỉnh cho nguy cơ mai một của di sản vẫn còn nguyên đó với đủ mọi kiểu dạng.

2.Trở lại với các lễ hội được phục dựng thời gian gần đây như Tịch điền, Lảnh Giang… các yếu tố của nghệ thuật đương đại xâm nhập vào ngày càng nhiều. Một số người cho rằng đó là cách để đưa di sản vào đời sống hiện đại. Nhưng trên thực tế không phải sự thử nghiệm nào cũng cho ra những kết quả như mong đợi. Anh nhìn nhận như thế nào về vấn đề này?

Dàn bát âm Ca trù Thăng Long trong màn Hát cửa đình ở Lễ Tịch điền


Về mặt lý thuyết, có nhiều phương án khác nhau trong việc ứng xử với di sản văn hóa dân tộc. Tùy vào từng đối tượng cụ thể mà người ta sẽ quyết định lựa chọn. Với 2 trường hợp phục dựng lễ Tịch Điền và lễ hội đền Lảnh Giang ở Hà Nam, cần phải có cái nhìn khách quan, công tâm. Sự phán xét cần căn cứ vào hiện thực diễn ra trong 2 lễ hội này. Ở đây, hệ giá trị nguyên mẫu –tức các bước quy trình của lễ hội cổ truyền vẫn được người thực hiện tôn trọng, phục dựng và bảo lưu. Trên cơ sở nguyên mẫu đó, người ta bồi thêm vào các giá trị nghệ thuật khác, trong đó có một phần mà giới truyền thông thường gọi đó là “nghệ thuật đương đại”. Ví như biểu mục lễ Tịch điền, người ta thêm vào lễ Hát cửa đình, lễ Cầu siêu trên chùa Đọi, màn trống hội, màn vẽ trâu của các họa sĩ, bắn pháo bông… Trong đó, Hát cửa đình, bắn pháo bông và lễ Cầu siêu là văn hóa cổ truyền. Cái mới ở lễ Cầu siêu chùa Đọi chỉ là màn trình chiếu ánh sáng, âm thanh… được thêm vào để tăng cường tính hấp dẫn chứ không loại bỏ các bước nghi thức cổ của âm nhạc Phật giáo. Màn trống hội thì dùng đội trống sẵn có của địa phương, vốn học theo cách cải biên trống dân tộc của dàn “trống hội Thăng Long” từ nhiều năm trước. Như thế, có thể thấy cái “mới” nhất chỉ là màn vẽ trâu mà thôi. Ở lễ hội Lảnh Giang cũng tương tự như vậy, các lễ thức cổ truyền được bảo lưu nguyên vẹn. Người ta thêm vào màn trình diễn hầu đồng lớn ven hồ nước. Trên ý tưởng hồi cố tích xưa, màn múa rối rắn thần được sáng tạo minh họa cho sự tích Quan lớn Đệ tam, diễn trên nền nhạc mới gợi ấn tượng huyền thoại, bí ẩn… Chiếu hầu đồng được trang hoàng theo cách thức mở rộng không gian mỹ thuật, sắp đặt, tận dụng hiệu quả ánh sáng hiện đại và trình diễn đám đông để ngõ hầu tạo được ấn tượng nghe nhìn hấp dẫn nhất cho công chúng. Trong đó, cốt lõi của hầu đồng – hát Văn vẫn được bảo lưu. Màn nghệ thuật vẽ người ở đây được xem như “mới nhất”, lạ mắt nhất, cái mà mọi người thường gọi là “nghệ thuật đương đại”. Ở đây, tôi cho rằng cách gọi “nghệ thuật đương đại” là một từ phiếm chỉ các giá trị phi cổ truyền mà người ta gán cho nó. Còn trên thế giới, "nghệ thuật đương đại" lại được hiểu theo một nghĩa khác. Về nghệ thuật vẽ trên cơ thể người (body art), người tổ chức có thể biện luận rằng đó vốn là nét văn hóa có từ thời cổ xưa, một hiện tượng phổ biến của người Giao Chỉ- là tổ tiên của chúng ta. Vậy “vẽ lên người” hay “body art” chỉ là vấn đề tên gọi, nói thế thì ai bẻ được họ? Vả chăng, những hình tượng được vẽ lên các trai tráng tham gia lễ hội Lảnh Giang phần lớn đều dựa trên những biểu tượng giao long mà người Việt cổ thường xăm mình. Các họa sĩ chuyên nghiệp và không chuyên đều thả hồn theo chí tưởng tượng trong không gian lễ hội thờ Thánh. Như thế, có thể thấy rõ các yếu tố mà ta cứ tạm cho là “mới” tham dự lễ hội ở đây hoàn toàn không loại bỏ các yếu tố cổ truyền. Vấn đề gây tranh cãi thời gian qua, theo tôi một là do nhiều người không quan sát kỹ lưỡng toàn bộ trình tự lễ hội, hai là người ta chưa hiểu đúng thế nào là “nghệ thuật đương đại”. Thành thử cứ nghe nói đưa “nghệ thuật đương đại” vào là cho rằng người tổ chức định loại bỏ văn hóa cổ truyền bằng yếu tố “hiện đại”, có thể coi đó như một sự hiểu lầm.

3.Có khá nhiều ý kiến phản đối cách hiện đại hoá lễ hội dân gian, cho rằng đó là một cách làm mới di sản. Với tư cách là nhà nghiên cứu, đồng thời là người trực tiếp tham gia vào quá trình này. Cảm nghĩ của anh như thế nào?

Như tôi vừa nói, chữ “hiện đại hóa” cần được hiểu đúng nghĩa và phải tùy từng trường hợp cụ thể. Với một lễ hội, việc tăng cường các yếu tố mới hấp dẫn đám đông mà không loại bỏ các giá trị cổ truyền thì theo tôi là vô hại. Trên thực tế, không phải lúc nào địa phương cũng có đủ kinh phí để có thể thực hiện một chương trình lớn như vậy. Trong các di sản văn hóa dân tộc, về nguyên tắc, lễ hội thuộc dạng “an toàn” hơn cả, mọi sự thử nghiệm đều có thể thực hiện. Theo thời gian, nếu các giá trị mới đó không thích hợp ắt sẽ bị giải thể, và lễ hội cổ truyền lại trở lại hình hài như nó vốn có. Từ rất lâu rồi, các tiết mục văn nghệ mới thường được thêm vào trong những lễ hội ở làng quê, như một phần giải trí trong ngày hội của người dân. Các yếu tố nghệ thuật “mới” đang bàn ở đây cũng vậy. Có kinh phí thì làm, không có thì người dân cũng dần quên đi thôi, có gì đâu mà phải làm ầm ĩ. Điều đáng quan ngại nhất trong việc làm mới, “hiện đại hóa” hệ di sản dân tộc lại chính là ở lĩnh vựa âm nhạc. Một lễ hội có thể được phục dựng theo sự mô tả ghi trên văn bản chi tiết, nhưng cổ nhạc thì không như vậy, toàn bộ giá trị chỉ được lưu giữ trong người nghệ nhân thực hành mà thôi. Ví dụ, bấy lâu nay, người ta đã quá quen với việc đệm xập xình theo phương pháp nhạc nhẹ Tây phương cho dân ca quan họ mà quên đi lối hát đối đáp mộc mạc không nhạc đệm cổ truyền của loại hình dân ca độc đáo này. Hiện tượng các cây đàn organ điện tử với dàn ampli luôn vặn to chói tai mới là điều đáng phải lo nghĩ về sự mai một của giá trị thẩm mỹ cổ truyền. Sự giải cấu trúc của thể loại hát trai gái đối đáp thành một hình thức nghệ thuật thương mại mới là điều đáng quan ngại.

Vẽ người hầu thánh


4.Theo anh, đâu là hướng đi tốt cho việc phục dựng, giữ gìn và bảo tồn các di sản dân tộc, đặc biệt là các di sản phi vật thể?

Một hướng đi tốt hoàn toàn phụ thuộc vào tri thức, quan niệm của người điều hành, nhà quản lý. Ở góc độ nhà nghiên cứu, căn cứ trên những gì mà các nước phát triển đã làm để bảo tồn hệ giá trị văn hóa của quá khứ, dễ thấy nguyên tắc càng bảo tồn nguyên vẹn bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Mọi việc “làm mới” di sản luôn được đặt ở thế song song, đồng hành chứ không thay thế, loại bỏ hệ giá trị cổ truyền. Với các di sản văn hóa phi vật thể, có những loại hình có thể bảo lưu nguyên vẹn cả không gian văn hóa từng bao chứa di sản đó. Nhưng cũng có những loại hình thì buộc phải phục dựng không gian xưa trong mô hình bảo tồn tập trung có trọng điểm, được khu biệt dạng bảo tàng sống. Đây là cách làm rất phổ biến trên thế giới. Nói thì đơn giản là vậy thế nhưng việc bảo tồn có thực hiện được hay không sẽ phụ thuộc rất nhiều vào nguồn kinh phí, đặc biệt trong cơ chế thị trường hiện nay. Ngoài ra, tri thức của “người cầm cân nảy mực” cũng là vấn đề vô cùng quan trọng, họ có thể làm tốt, tiêu tiền đúng người đúng việc hoặc tiêu phí cả nguồn kinh phí lớn vốn để đâu tư bảo tồn di sản. Đây là vấn đề rất nhạy cảm trong chúng ta mà không phải ai cũng dám nghĩ, dám nói thẳng. Còn có quá nhiều điều phải lo nghĩ cho “một cơ may” với các di sản văn hóa phi vật thể dân tộc.

Màn khai mạc phần trình diễn mới trong lễ hội Lảnh Giang


5.Cùng với sự phát triển của xã hội, công cuộc bảo vệ di sản chẳng mấy chốc nữa sẽ thuộc về những thế hệ 8x, 9x. Anh đánh giá như thế nào về ý thức giữ gìn di sản của thế hệ trẻ hiện nay?

So với thế hệ chúng tôi, thế hệ 8x, 9x hiện nay có rất nhiều khác biệt. Điều thiệt thòi rất lớn của họ là không được tiếp xúc với nhiều giá trị chân truyền của cha ông do các lớp nghệ nhân lão thành đã khuất bóng từng lưu giữ. Nó cũng giống như sự thiệt thòi của thế hệ chúng tôi so với lớp cha anh đi trước. Nhưng bù lại, hiện nay điều kiện tiếp cận thông tin đại chúng của thế hệ 8x, 9x lại vô cùng thuận lợi, đặc biệt sự cập nhật thông tin trên thế giới. Nếu được giáo dục chủ động đúng hướng và đồng bộ, tôi hoàn toàn tin tưởng họ sẽ làm tốt hơn nhiều so với các thế hệ cha anh trong công cuộc bảo tồn hệ giá trị di sản văn hóa nghệ thuật cổ truyền dân tộc.

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 19992055