Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Phỏng vấn TQH

Cát Vũ : Nhà nghiên cứu, nhạc sĩ Trần Quang Hải: Giá trị nhạc cổ truyền là ở sự tinh túy

Nhà nghiên cứu, nhạc sĩ Trần Quang Hải:
Giá trị nhạc cổ truyền là ở sự tinh túy

PN - Ở VN, người ta thường chỉ biết đến nhạc sĩ Trần Quang Hải với tư cách là người con trưởng của GS-TS Trần Văn Khê.

Nhưng trên thế giới, ông nổi tiếng là một chuyên gia nghiên cứu về dân tộc nhạc học VN và Á châu. Từ 40 năm nay, ông dành nhiều tâm sức cho công trình nghiên cứu về giọng hát đồng song thanh và được xem  là người duy nhất trên thế giới áp dụng thành công kỹ thuật đồng song thanh trong nhiều lĩnh vực khác nhau như hát, trị bệnh, cải thiện giọng nói, phát âm ra chữ... Ông vừa trở về VN theo lời mời của Bộ VH-TT-DL để tham dự Liên hoan Cồng chiêng quốc tế 2009 (diễn ra tại TP Pleiku từ ngày 12 đến 15/11). Tại hội thảo trong khuôn khổ liên hoan, nhạc sĩ Trần Quang Hải trình bày tham luận về đề tài "Cồng chiêng ở Đông Nam Á và sự bảo tồn và phát triển truyền thống cồng chiêng trước tình hình toàn cầu hóa văn hóa".

* Thưa nhạc sĩ, nghệ thuật cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO trao tặng danh hiệu "Kiệt tác văn hóa phi vật thể" vào năm 2005, vậy bây giờ tổ chức liên hoan nhằm mục đích gì?

- Nhạc sĩ Trần Quang Hải: Liên hoan được tổ chức nhằm mục đích "khoe" với thế giới về những thành quả của sự bảo tồn và phát triển văn hóa cồng chiêng từ sau khi được UNESCO tôn vinh bằng danh hiệu cao quý. Hay nói một cách nôm na rằng, người ta muốn xem từ sau khi được trao tặng, danh hiệu đó đã ảnh hưởng thế nào đến sự phát triển của nghệ thuật cồng chiêng Tây Nguyên. Theo tôi biết, nghệ thuật cồng chiêng Tây Nguyên hiện nay đã ra tới nước ngoài. Nhiều nhóm cồng chiêng đã đi biểu diễn ở nước ngoài và trong dự án đang soạn thảo, cồng chiêng có thể sẽ được đưa vào chương trình giáo dục âm nhạc ở VN. Liên hoan lần này quy tụ gần 30 sắc tộc ở VN và gần 2.000 nhạc sĩ, vũ công tham gia biểu diễn. Có bốn quốc gia gửi đoàn cồng chiêng tiêu biểu của họ sang dự. Có 18 giáo sư, tiến sĩ thuộc các nước Nhật, Lào, Campuchia, Pháp, Thái Lan, Hà Lan... sẽ đọc tham luận. Tôi làm chủ tọa một trong bốn tiểu ban ở ngày  hội thảo.

Có thể nói, đây là lần đầu tiên thế giới có một Liên hoan quốc tế về cồng chiêng và cũng chưa bao giờ có một hội thảo cồng chiêng quy tụ đông các nhà nghiên cứu cồng chiêng ở Đông Nam Á và thế giới đến để chia sẻ về nền văn hóa này. Sau những "kiệt tác phi vật thể" được UNESCO công nhận như nhạc cung đình (năm 2003), cồng chiêng (2005), ca trù và quan họ (tháng 10/2009), chúng ta đang nỗ lực để VN ngày càng có nhiều bộ môn nữa như hát xẩm, hát chèo, hát xoan, vọng cổ... được tuyên dương và được thế giới biết đến.

 

* Nghệ thuật hát đồng song thanh nghe thật lạ lẫm. Nó xuất phát từ đâu và vì sao nhạc sĩ lại trở thành người duy nhất trên thế giới có khả năng truyền bá môn nghệ thuật này?

- Nghệ thuật này xuất phát từ Mông Cổ. Lúc đầu tôi học nó từ một cuốn băng thu thanh ở Mông Cổ, sau đó gọt giũa thêm khi tôi gặp trực tiếp một ca sĩ người Mông Cổ. Đồng song thanh là kỹ thuật cho hai tiếng cùng phát ra một lúc ở hai cao độ khác nhau. Thế nhưng, đó chỉ là kỹ thuật ban đầu, sau này qua nghiên cứu, tôi đã tìm ra phương pháp truyền dạy cho người khác nhanh chỉ trong một phút, thay vì phải nhiều giờ như kiểu truyền thống của Mông Cổ. Tôi cũng đã ứng dụng kỹ thuật này để giúp ca sĩ luyện được làn hơi dài (kỷ lục 1 phút 50 giây), giúp người bị ung thư cổ họng (đứt dây thanh quản) nói được, giúp các nhà giảng đạo, các nhà chính trị... có chất giọng dày để tự tin hơn khi nói chuyện trước công chúng. Ngoài ra, nghệ thuật bồi âm tôi luyện được có thể viết thành chữ, có khi còn giúp đem lại hòa  khí gia đình khi hai vợ chồng cùng tập.

* Được biết nhạc sĩ đang sở hữu khoảng 500 chiếc đàn môi, trong đó trên 200 cây có công năng khác nhau. Đàn môi VN có nằm trong số này không, thưa ông?

- Tất nhiên là phải có rồi. VN có tất cả 10 loại đàn môi. Năm trăm chiếc đàn môi hiện có trong nhà là do tôi sưu tầm trên 30 nước khác nhau và tôi có thể sử dụng được hết. Tôi còn sáng tạo ra cách dùng đàn môi nói được tiếng người và có thể chế nhiều vật dụng nho nhỏ thành đàn môi như tấm thẻ điện thoại hay chiếc muỗng cà phê. Tôi là sáng lập viên Hội đàn môi thế giới (International Jews Harp Society). Hội này cứ ba năm tổ chức một lần liên hoan, quy tụ trên 300 nhạc sĩ chơi đàn môi khắp thế giới, khởi đầu tại Siberi, Áo, Na Uy, Hà Lan và lần thứ 5 vào tháng 7/2010, sẽ diễn ra tại Budapest (Hungari). Nhờ các cuộc liên hoan này mà VN hàng năm bán ra khắp thế giới khoảng 100.000 cây đàn môi.

 

"Tôi có thể sử dụng được năm trăm chiếc đàn môi"

* Từ lúc nào nhạc sĩ  được tôn vinh là "vua muỗng". Ông đã học nghệ thuật đánh muỗng ở đâu?

- Năm 1967, tại Festival âm nhạc cổ truyền ở Cambridge (Anh), có khoảng 50 thí sinh khắp thế giới đến đua tài chơi muỗng. Họ phải trải qua nhiều vòng, từ vòng loại cho đến vòng chung kết. Tôi đã "hạ” hết các đối thủ để đoạt giải nhất, từ đó, mới có tên "vua muỗng". Tôi có thể sử dụng một lúc từ hai đến năm cái muỗng, chơi được nhiều loại nhịp, đổi qua nhiều ngón tay, đổi vị trí các muỗng, ở bất cứ vị trí nào trên người cũng phát ra âm nhạc. Nghệ thuật chơi muỗng này tôi học cách đây khoảng 60 năm, từ các anh bộ đội trong kháng chiến. Khi ấy, tôi mới năm, sáu tuổi và tất nhiên sau này, khi theo nghề nghiên cứu âm nhạc dân tộc, tôi phát triển thêm. Tôi đã đem nghệ thuật chơi muỗng này dạy cho trẻ em khắp thế giới. Có nơi, tôi lập hẳn một dàn nhạc muỗng để biểu diễn.

* Nhiều người vẫn còn nhớ ngày trước, ông từng có sáu năm là học trò môn violon của nhạc sư Đỗ Thế Phiệt tại Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn, vì sao khi sang định cư ở Pháp, ông không tiếp tục theo Tây nhạc mà chuyển sang ngành nhạc dân tộc?

- Bởi nếu qua bên Tây theo nhạc Tây thì mình mãi mãi chỉ là học trò, còn nếu làm nhạc ta thì mình sẽ là thầy dẫu ở trình độ nào. Qua Pháp, tôi chuyển ngay sang học âm nhạc dân tộc, có thể chơi 15 loại nhạc cụ Tây, ta như tranh, cò, bầu, sinh tiền, trống Iran, trống Ba Tư, sáo... Hầu hết đều tự học. Công việc chính của tôi là nghiên cứu nhưng trong 47 năm qua, tôi đã đi dạy tại 130 trường đại học trên thế giới, trình diễn khoảng 3.000 buổi về âm nhạc VN.

* Cuộc hôn nhân giữa ông - một nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học và Bạch Yến - một danh ca về nhạc Tây phương là trường hợp hơi đặc biệt. Phải chăng chỉ tình yêu là đủ để gắn kết hai sự khác biệt này trong suốt 31 năm qua?

- Cuộc hôn nhân của chúng tôi được khởi đầu từ duyên số hơn là tình yêu. Chúng tôi gặp nhau khi cả hai cùng "rảnh" nhưng không còn trẻ, cùng đã có nhiều kinh nghiệm sống. Lúc mới về sống chung, chúng tôi coi nhau như bạn, càng sống, càng hiểu, mới nảy sinh tình yêu. Tôi nghĩ chính vì vậy mới lâu bền, chứ tình yêu lúc đầu quá nồng nàn như cây rơm, cháy rất mau rồi cũng sẽ tàn rất nhanh. Bạch Yến là một ca sĩ nổi tiếng hát nhạc Tây phương nhưng lại có tâm hồn VN. Ra ngoài đi hát nhưng về nhà biết chợ búa cơm nước, lo cho gia đình chu đáo. Bạch Yến cũng cùng tôi nuôi dạy cô con gái riêng của tôi lúc đó mới năm tuổi nên người, biết yêu quê hương VN. Cháu sinh ra ở bên Tây, lấy chồng Thụy Sĩ, thành thạo năm thứ tiếng, nhưng cho đến bây giờ, viết email cho chúng tôi, cháu vẫn chỉ dùng tiếng Việt có bỏ dấu đàng hoàng.

Khi về với tôi, để vợ chồng cùng đi một hướng, luôn bên nhau, Bạch Yến đã hy sinh, bỏ hát, không nghe nhạc Tây, chuyên tâm học hát nhạc dân tộc trong suốt 15 năm. Tôi và Bạch Yến đã cùng nhau ra 7 CD nhạc dân tộc, diễn mỗi năm hàng ngàn buổi về nhạc cổ truyền VN. Chúng tôi ý thức mình đi truyền bá văn hóa Việt cho thế giới nên khi nào xuất hiện, tôi cũng áo dài, khăn đóng, Bạch Yến áo cánh nâu hoặc áo dài tứ thân, năm tà, mang hài, để móng tay, móng chân mộc không sơn... Lúc trình diễn ngồi nghiêm chỉnh, không nhún nhảy, lắc lư. Nói tóm lại, chúng tôi muốn trở về tinh túy với phong cách cổ truyền, không lai tạp.

* Và sự hy sinh đó của danh ca Bạch Yến có đồng nghĩa với sự thiệt thòi?

- Không, ngược lại, khi bằng lòng quay về với nguồn cội, cả Bạch Yến và tôi đều cảm thấy mình "giàu có” hơn lên. Khán giả luôn tìm tới mình để nghe, để học hỏi, khám phá văn hóa của một dân tộc. Hằng năm, chúng tôi diễn khoảng 1.500 buổi cho hàng trăm ngàn trẻ em các nước Tây phương nghe âm nhạc cổ truyền VN. Chúng tôi nghĩ rằng, rồi đây sau 20 năm, các em hôm nay sẽ trở thành những nhà lãnh đạo, và nhờ đã có hiểu biết, có cảm tình với âm nhạc VN được gieo mầm từ nhỏ, họ sẽ dành cái nhìn thiện cảm cho đất nước VN. Làm công việc này, chúng tôi như người đi gieo giống dài hạn.

Cát Vũ (thực hiện)

 

http://www.phunuonline.com.vn/2009/Pages/gia-tri-nhac-co-truyen-la-o-su-tinh-tuy.aspx

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 2084766