Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Giọng

Tạ Hải Bảo Vương : Các loại giọng hát ở Châu Âu và Châu Á

 Bel Canto (mỹ ca / hát đẹp) là một danh từ dùng để chỉ định môt kỹ thuật hát của xứ Ý với phẩm chất trong sáng và lớn rộng mà các ca sĩ Ý dùng để chinh phục người nghe .Bí quyết của bel canto là làm sao chuyển từ giọng ngực (voix de poitrine / chest voice) sang giọng óc (voix de tête / head voice) mà không nghe sự chuyển giọng đó và làm nới rộng tầm cỡ âm vực (registre / register ; ambitus / range) giữa giọng nói bình thường và giọng hát lúc diễn xuất .

Các loại giọng hát ở Châu Âu và Châu Á


Tạ Hải Bảo Vương
05-27-2007, 10:25 PM
Bel Canto (mỹ ca / hát đẹp) là một danh từ dùng để chỉ định môt kỹ thuật hát của xứ Ý với phẩm chất trong sáng và lớn rộng mà các ca sĩ Ý dùng để chinh phục người nghe .Bí quyết của bel canto là làm sao chuyển từ giọng ngực (voix de poitrine / chest voice) sang giọng óc (voix de tête / head voice) mà không nghe sự chuyển giọng đó và làm nới rộng tầm cỡ âm vực (registre / register ; ambitus / range) giữa giọng nói bình thường và giọng hát lúc diễn xuất .
Bel Canto bắt nguồn từ thời Trung cổ, nhưng được phát hiện vào thê kỷ 16 /17. Các giáo sư Ý dạy kỹ thuật hát bel canto cho học trò . Khi học trò đạt được kỹ thuật này, thầy dạy hát bắt học trò phải lập đi lập lại cả trăm lần cho tới khi nào thấm nhập vào trí não mới thôi .
Lúc đầu Bel Canto chỉ dành cho nam ca sĩ . Khi “opera” được tạo ra, kỹ thuật hát Bel Canto trở thành cách hát chánh thức của loại nhạc kịch này vào thời kỳ “tái sinh” (Renaissance ) . Dần dần giọng soprano cũng dùng kỹ thuật Bel Canto để hát . Ngày nay, cảc giọng sopranos như Joan Sutherland, Kathleen Battle, và Cecilia Bartoli bảo trì truyền thống bel canto này .
Những nhà viết opéra đặc biệt cho giọng Bel Canto nổi tiếng gồm có Rossini, Donizetti, Bellini Marcello và Puccini . Một vài ca sĩ danh tiếng hiện nay như Pavaroti, Andrea Bocelli nổi tiếng thế giới qua hát loại Bel canto trong loại nhạc cổ điển nhẹ (musique classique légère / light classical music) và ca khúc thời trang (chansons de variétés / pop songs) cho thấy là kỹ thuật bel canto vẫn còn sống mạnh khi bước vào thế kỷ 21 .

Các truyền thống hát ở Á châu

Á châu là một lục địa có nhiều truyền thống về giọng nhứt đi từ giọng thật trầm như giọng các thiền sư Tây Tạng tới giọng thật cao của các diễn viên hát kinh hí của Trung quốc .Về cách rung giọng có thể nghe các kỹ thuật rung giọng của xứ Ba Tư (tahir) , Ấn độ (gamak, alankara), Việt Nam (đổ hột trong ca trù), Hàn quốc (cách rung giọng trong hát pansori, kagok, sijo)


Ba Tư : Trong kỹ thuật hát của xứ Ba Tư có kỹ thuật rung giọng gọi là TAHIR và phải hát bằng giọng ngực và rung giọng trên nhiều cao độ (mélisme/ melisma) như tiếng nức nở . Kỹ thuật này có vài điểm tương tự trong truyền thống giọng của các quốc gia Ả rạp . Ông lý thuyết gia nhạc ả rạp và Ba Tư Al Farabi đã kê liệt một danh sách kỹ thuật giọng đầy đủ chi tiết : giọng trong, sáng , trầm, bổng, êm dịu, cao vút, the thé, khô khan, nào ruột, hậm hực, khò khè, khọt khẹt, rạo rực, bóng bẩy, nhí nhảnh, vv…Giọng rè, khàn được cho là giọng đẹp .


Ấn độ : Xứ Ấn độ với hai truyền thống Bắc (Hindousthani) và Nam (Carnatique) có ba thể hát đòi hỏi nhiều năm luyện tập : Dhrupad , Khyal, và Thumri .Hát Dhrupad là khó nhất , cổ xưa nhất xứ Ấn độ đã được gia đình Dagar gìn giữ cả mấy trăm năm nay . Hát loại này phải dùng giọng ngực mà thôi và phải phát rộng âm vực tới 2 bát độ rưỡi (2 octaves ½) và luyện cách ngân, rung giọng ( hơi giống lúc bị trúng mưa , lạnh rung , môi tím lè, thoát ra một giọng rung lập cập). Hát Khyal dễ hơn Dhrupad nhưng cũng khó đối với người chưa bao giờ học, có đặc tánh là hát rất phóng túng, tùy hứng và chạy chữ rất mau qua những kỹ thuật đánh lưỡi, rung dây thanh quản cực kỳ mau lẹ . Hat Thumri dùng giọng nhẹ nhàng hơn . Nhưng cả ba thể loại hát phải biết nắm vững các điệu thức RAGA và các công thức tiết tấu TALA là hai khía cạnh đặc thù của nhạc Ấn .


Nam Dương : Xứ Nam Dương với trên 200 triệu dân và cả ngàn đảo lớn nhỏ có nhiều truyền thống giọng quan trọng . Đặc biệt là trên đảo Bali có một nghệ thuật hát tập thể trong thể loại KECAK hát truyện RAMAYANA (đặc biệt của vùng Ấn độ và Đông Nam Á) . Nhóm ca sĩ gồm có gần 200 người ngồi dưới đất vừa có người hát đơn ca, trong khi ban hợp xướng bắt chước tiếng kêu thét của khỉ giống như tiếng “chắc chắc ! chắc! “tạo thành tiết tấu, đa âm, nhịp nội, ngoại đủ hết rất linh động . Kecak được sáng tạo vào đầu thế kỷ 20, bắt nguồn từ loại múa lên đồng ở tại đình chùa

Việt Nam : kỹ thuật lạ nhất và khó nhất trong cách hát của Việt Nam không phải là giọng óc trong hát bội, mà cũng không phải là giọng cao vút , the thé trong hát chèo , mà là giọng hát trong Ca Trù , một thể loại thình phòng của mền Bắc xứ Việt Nam . Nghệ thuật hát trong Ca Trù là làm sao khi hát miệng không mở to mà phải hát thật rõ , mỗi chữ phải uốn nắn thật là gian lao gọi là “nhả chữ”. Tiếng hát phải cho tròn , rõ chữ . Giọng ngân trỗi lên và hạ xuống chậm rãi và nhỏ dần có tên rất gợi hứng là “đổ hột” gần giống như tiếng hột đậu đổ lên bàn, hay hạt trai rơi từng hạt xuống bàn . Nếu hát “đổ hột” thật là nhuyễn thì gọi đó là “đổ con kiến” (cách gọi của bà Quách Thị Hồ) . Ngoài ra có cách ém hơi tức là gằn giữ lấy hơi từ cổ họng chứ không phải phát âm từ lồng ngực như theo cách hát của phương Tây và được gọi là “ậm ự” . Hát đã khó (vì phải học ít nhứt là cả chục năm để trở thành ca sĩ chuyên nghiệp) lại còn phải biết gõ phách (là cả một nghệ thuật )


Hàn Quốc : Xứ Đại Hàn cũng có truyền thống hát phong phú . Trong loại hát bác học cung đình thì có hai thể loại ca khúc KAGOK và SIJO, hát chậm rãi, thoát giọng , và rung giọng khoan thai chứ không có mau lẹ , được cả một dàn nhạc Hyang ak (Hàn nhạc) đệm . Cách hát tượng trưng cho kỹ thuật hát của Hàn Quốc là trong hát tuồng PANSORI . Một ca sĩ (nữ hay nam) một mình trên sân khấu, tay cầm quạt, và tay cầm chiếc khăn đứng trên sân khấu cả 6 tiếng đồng hồ, kể chuyện với giọng hát nức nở, thổn thừc, gào thét, rên rỉ, hầm hừ, run rẩy, vv… vừa múa may chút đỉnh, với sự phụ họa của tiếng trống giống trống changgo gõ trên nhiều công thức tiết tấu rất khúc chiết .


Trung Quốc : Trung Quốc sáng tạo cách hát giọng óc (giọng the thé rất cao nghe muốn nhức óc nếu không quen) . Cách hát giọng óc (voix de tête / head voice) là chuyển sang giọng lên óc và pha trộn với giọng mũi và hát thật chanh chua chát chúa chỉ dành cho vai chánh nam và vai chánh nữ. Loại giọng này chỉ được dùng trong hát kinh hí (Peking Opera / Opera de Pekin) . Tất cả các loại tuồng khác đều dùng giọng thường. Tất cả những vai khác (lão, hề, vai phụ, ma quỷ) đều dùng giọng hát thường . Giọng này gần giống với giọng hát của những ca sĩ gọi là “CASTRAT” ở Tây phương tức là ca sĩ ngày xưa bị thiến để giữ mãi giọng đàn bà và gịọng cao soprano vì ngày xưa (Trung cổ) đàn bà không được vào nhà thờ hát . Ngày nay người hát theo kiểu Castrat hoàn toàn bình thường mà chỉ luỳện giọng cũng thành công hát được . Người hát loại giọng này nổi tiếng nhứt thế giới hiện nay là ông William Christie (người Anh) chuyên về hát giọng mái cho thể loại nhạc baroque .


Tây Tạng : Xứ Tây Tạng có một cách đọc kinh Phật với một giọng thật trầm (khoảng 60 Hz, cao hơn nồt LA 0 55 Hz – theo truyền thống Pháp, hay LA 1 – theo truyền thống Anh Mỹ ). Đây là giọng thật trầm vì giọng thật trầm (voix Basse / Bass voice) trong nhạc cổ điển chỉ ở vào khoảng 70 Hz . Truyền thống luyện giọng rất khổ cực và phải chấp nhận hy sinh . Một chú tiểu được chùa lựa để trở thành người đọc kinh theo thể loại giọng thật trầm thì phải theo phương pháp luyện tập sau đây . Mỗi ngày từ sáng tới chiều, chú tiểu phải uống từng ngụm nước . Sau khi nước vào trong miệng thì phải khạc ra theo kiểu ụa mữa . Làm như vây 8 giờ một ngày và trong vòng 10 năm . Tới mùa đông thì phải ăn từng cục tuyết và ụa ra để làm hư dây thang quản . Giọng nói sẽ bị rè đi , và khào vì bị hư thanh quản . Những nhà sư đó phải học cách tụng kinh theo kỹ thuật giọng trầm tạo một bầu không khí trang nghiêm , huyền bí . Ngoài giọng trầm, nhà sư đó phải tạo cùng lúc bồi âm số 10 (quảng 3 trưởng trên 3 bát độ) theo truyền thống môn phái Gyuto của chùa Gelugpa (Đạt Lai Lạ Ma thuộc môn phái này). Còn nhà sư theo môn phái Gyume của chùa Gelugpa thì luyện giọng y như vây nhưng phải hát bồi âm số 12 (quảng 5 đúng trên 3 bát độ) .Nhà soạn nhạc Đức Stockhausen chuyên về nhạc điện thanh (musique électro-acoustique / electro-acoustical music) đã khám phá kinh Tây Tạng qua các giọng trầm với những bồi âm và ông đã viết một nhạc phẩm “Stimmung” (Voix / Voice, năm 1968) sử dụng bồi âm đầu tiên ơ” Tây phương . Giờ đây, giới thiền, nhạc thiền, nhạc trị bịnh đều bị thu hút bởi giọng trầm của các thiền sư Tây Tạng và tạo thành một phong trào học Phật giáo Tây Tạng rất mạnh ở Âu Mỹ .


Mông Cổ : Xứ Mông cổ có một kỹ thuật hát đồng song thanh XOOMIJ (đọc là KHƠ MI) tức là hát giọng chánh bằng giọng thật của mình (thường là ở khoảng 170 Hz tới 210 Hz), rồi từ đó lựa các bồi âm từ bồi âm 6 tới 12 , bỏ bồi âm 11 để hát thang âm ngũ cung theo truyền thống nhạc Mông cổ (chỉ có ngũ cung mà thôi) . Từ lâu ít có ai để ý tới kỹ thuật hát này . Ngay ở xứ Mông cổ cũng không thấy có bài nghiên cứu nào viết về loại hát hai giọng cùng một lúc này . Phải đợi tới thập niên 60 mới thấy có người thu thanh . Ông Vargyas ở Hung Gia Lợi phát hành dĩa 33 vòng đầu tiên vào năm 1967 ở Budapest trong đó có hai bài với kỹ thuật đồng song thanh . Xứ Pháp là xứ thứ nhì phát hành một dĩa nhạc Mông cổ trong đó có hai ca khúc với hát đồng song thanh nhờ vào sự đóng góp của tôi . Tôi khám phá loại hát này vào năm 1969 khi bà Roberte Hamayon mang băng nhạc bà thu ở Mông cổ vào năm 1967 . Sự khám phá này đã khuyến khích tôi tham gia vào việc lựa chọn bài bản cho dĩa hát “Chants Mongols et Bouriats” do hãng Vogue xuất bản vào năm 1972 .Từ đó trở đi , hàng chục dĩa 33 vòng được xuất bản ở Anh (do bà Jean Jenkins thực hiện), bên Pháp (do Alain Desjacques làm). Khi tới giai đoạn sản xuất CD, thì có hàng trăm CD được tung ra trên thị trường với các ca sĩ nổi tiếng ở Mông cổ như Sundui, Tserendava, Ganbold, Yaavgan,Bayarbaatar Davaaruen, Zerendorsh, ban Egschiglen . Và rất nhiều hãng dĩa ở Nhật (King Records), Hoa kỳ (Smithonian Institute & Folkways), Pháp ( Buda Records, Playasound, Maison des Cultures du Monde, Ocora), Hòa Lan (Pan Records), Đức ( Hamburgisches Museum fur Volkerkunde) đua nhau tung ra hàng chục CD về nhạc Mông cổ và nhứt là hát đồng song thanh .

Tuva : môt quốc gia tùy thuộc xứ Nga, nhưng đứng về địa lý thì thuộc Á châu, ở cạnh xứ Mông cổ , là một xứ có 300.000 dân (100.000 Nga và 200.000 Tuva) thuộc Tây Bà Lợi Á về phía Nam . Xứ Tuva phát triển kỹ thuật hát đồng song thanh với 5 kỹ thuật khác nhạu: sygyt, khoomei, borbannadyr, ezengileer, và kargyraa . Chỉ có hai kỹ thuật sygyt (bồi âm giống tiếng sáo cao vút ) và kargyraa (giọng bối âm thật trầm) .Hát đồng song thanh Tuva được quảng đại khắp nơi từ đầu thập niên 80 . Nhóm Huun Huur Tu gồm 4 ca sĩ với nhiều kỹ thuật hát đồng song thanh đã đóng góp rất lớn cho việc thành công phổ biến giọng hát đồng song thanh này . HIện nay nhóm này trở thành bạn thân của tội vì tôi đã gặp họ năm 1995 tại xứ Tuva và đã trình diễn nhiều lần với nhau tại những festivals , và đặc biệt là năm 2003 tôi mời họ tham gia một DVD “Le Chant Diphonique” do Trung tâm quóc gia tài liệu sư phạm (Centre National de Documentation Pédagogique) của đảo La Réunion . DVD này sẽ được tung ra thị trường vào tháng 10, 2004 .
Nguồn : http://www.tranquanghai.info (http://www.tranquanghai.info)

 

 

http://www.diendannetchat.com/diendan/archive/index.php?t-1137.html 

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 20657647