Sách tham khảoĐÀO Trọng Từ , 1979 : « La Renaissance de la musique vietnamienne », Essais sur la musique viêtnamienne, Editions en langues étrangères : 146-221, Hanoi, Vietnam .GIBBS, Jason, 1996 : « Nhạc Tiền Chiến : The Origins of Vietnamese Popular Song », bài tham luận ở hội nghị của Society for Ethnomusicology, Northern Carolina, Hoa kỳ (8 trang)GIBBS, Jason, 1997 : « Reform and Tradition in Early Vietnamese Popular Song », Nhạc Việt
Tran Quang Hải : Lịch sử tân nhạc Việt Nam (phần 2)1. Nhớ Quê Hương, nhớ SaigonÐất nước vừa bị mất, quê hương phải lìa xa. Saigon vừa bị đổi tên. Niềm thất vọng tràn trề dâng cao trong lòng tất cả người dân Việt phải bỏ xứ ra đi trong uất hận, căm tức, tủi nhục. Toán người di tản ra đi đầu tiên đã đến Mỹ vào gi"a mùa xuân năm 1975. Phải đợi
Nhạc Mới hay là Tân Nhạc hay là Nhạc Cải Cách là một loại nhạc xuất hiện vào khoảng năm 1928. Ðó là một thể nhạc lấy nhạc ngữ Tây phương làm nền tảng (thang âm thất cung do-ré-mi-fa-sol-la-si-do, hòa âm phối khí, nhạc khí Tây phương vv...).1Lịch sử tân nhạc Việt NamTrần Quang Hải (Paris, Pháp)Lịch sử tân nhạc Việt Nam có thể chia
Cứ mỗi 2 năm ICTM (International Council for Traditional Music - Hội đồng quốc tế nhạc truyền thống) tổ chức một hội nghị thế giới quy tụ một số lớn hội viên tại một quốc gia nào đó ở một lục địa khác nhau để cùng nhau trao đổi những thành quả nghiên cứu về tất cả bộ môn có liên hệ tới dân tộc nhạc học .Hội nghị thế giới ICTM (International Council
Khi nói đến cải lương , đối với người miền Nam cũng như người miền Bắc đều nghĩ đến bài Vọng cổ trước tiên . Nhưng ít ai biết đến xuất xứ, hình thành, và diễn tiến của ngành nghệ thuật sân khấu đặc biệt của miền Nam nầy . Trong phạm vi bài này tôi sẽ lần lượt đề cập đến nguồn gốc của hai chữ « Cải Lương », quá trình, hình
Nhạc cổ truyền đối với chúng ta là một loại nhạc xưa được truyền tụng cho tới ngày nay. Tân nhạc là loại nhạc mới. Mới ở đây là nghĩa gì? Có phải là loại nhạc soạn theo nhạc ngữ Âu Mỹ, hay nói một cách khác, là các bài nhạc được soạn trong khoảng 80 năm nay (từ năm 1930) theo kiểu Tây phương nghĩa là có hòa âm,
Đàn môi (tiếng Anh là Jew’s Harp / tiếng Pháp là Guimbarde) là một loại đàn rất nhỏ có thể bỏ vào túi (dài chừng 7cm) thuộc loại nhạc khí tự âm vang (idiophone). Đàn mội Âu Mỹ chỉ có một loại bằng kim khí (metal : thép, sắt, đồng, thau, nhôm) và chỉ có một kiểu thôi.
Một Vài Vấn Đề Về Nhạc Cổ Truyền Việt NamTrần Quang Hải (Paris , Pháp) Nhạc cổ truyền đối với chúng ta là một loại nhạc xưa được truyền tụng cho tới ngày nay. Tân nhạc là loại nhạc mới. Mới ở đây là nghĩa gì? Có phải là loại nhạc soạn theo nhạc ngữ Âu Mỹ, hay nói một cách khác, là các bài nhạc được soạn trong khoảng
Ít người để ý đến chuyện nói về thú trong âm nhạc nói chung. Có thể có người biết chung chung về thú được dùng trong âm nhạc như da trống, hoặc hình dáng cây đàn theo một con thú nào đó. Nhân dịp Xuân về, để giúp các bạn thoải mái đôi phút, tôi xin mạn phép nói chuyện về chuyện thú vật
Dân tộc Việt Nam có một nền dân ca lâu đời và rất phong phú. Người Kinh chỉ có hát chứ không có múa như các sắc tộc khác cùng sống trên lãnh thổ Việt Nam. Tình Yêu trong dân ca Việt NamTrần Quang Hải (Paris, Pháp)
Dân tộc nhạc học là gì ? Đối với người Tây Phương, bộ môn học này cũng chưa thu hút đông người như môn nhạc học (musicology). Dân tộc nhạc học (Ethnomusicologie / Pháp, Ethnomusicology/Anh-Mỹ, Musikethnologie/Đức) có thể nói là một bộ môn nghiên cứu âm nhạc còn co’ đôi phần mơ’i lạ đối với Việt Nam. Bộ môn này khởi thủy
Người Thái, một trong 54 sắc tộc ở Việt Nam, sống đông đúc ở miền Tây Bắc xứ Việt Nam. Họ đến định cư tại Việt Nam từ thế kỷ thứ 10 và hiện nay dân tộc Thái đã có gần 400.000 người. Ngôn ngữ Thái hiện nay đã được xếp vào nhóm tiếng Thái hay còn gọi là nhóm Tày Thái. Những dân tộc cùng hệ ngôn ngữ
Dân ca Việt Nam rất là phong phú. Tất cả những bài ca do dân quê sáng tác và không thuộc nhạc triều đình, nhạc thính phòng, nhạc tôn giáo thì được xếp vào loại dân ca. Dân Ca Việt Nam Trần Quang Hải (Paris , Pháp)
Viễn Đông là một phần của Á châu và chịu ảnh hương văn minh vàvăn hóa Trung Quốc rất sâu đậm. Các xứ Nhựt Bổn, Đại Hàn và Việt Nam đều sử dụng Hán tự để diễn tả tư tưởng, dù rằng mỗi xứ đều có chữ viết riêng (Nhựt với hiragana, katakana, kanji; Đại Hàn với hyangul; Việt Nam với quốc ngữ). Vì thế, ảnh